vanban.org

Bản án 593/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kỹ N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T về hình phạt đối với bị cáo về tội “Giết người”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kỹ N phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cố ý gây thương tích”, Xử phạt bị cáo Nguyễn Kỹ N 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Kỹ N phải chấp hành hình phạt chung cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kỹ N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kỹ N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T về hình phạt đối với bị cáo về tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 593/2020/HS-PT
Ngày 30 tháng 9 năm 2020
“Nguyễn Kỹ N - Giết người,
cố ý gây thương tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công Các thẩm phán:

Ông Đỗ Đình Thanh

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 278/2020/TLPT-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Kỹ N do bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Kỹ N, sinh năm 2000 tại tỉnh T; Nơi cư trú: ấp Lộc Hòa, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh T; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn Bơ và bà Lê Thị Bích Phượng; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2019 chuyển sang tạm giam từ ngày 21/12/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Thị Phong và luật sư Trần Văn Công – Văn phòng luật sư Quang Lê thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Ngoài ra còn có 01 người bị hại, 04 người đại diện hợp pháp của người bị hại và 02 người đại diện hợp pháp của 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/12/2019, bị cáo Nguyễn Kỹ N dự đám giỗ tại nhà anh Đặng Hoài P ở ấp Thuận Bình, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T. Như đăng ký hát Karaoke nhưng chờ lâu chưa tới lượt hát nên N bực tức, lớn tiếng tại đám giỗ. Anh Phan Thanh K (tên gọi khác là T) xông vào đánh nhau với N được mọi người can ngăn thì N ra bên hông nhà lượm khúc cây dài khoảng 01 mét tìm đánh K thì bị anh Trần Công K1 giật lấy cây và dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, đầu và lưng của N rồi vật N xuống đất. N thoát ra được rồi chạy vào nhà anh P lấy con dao cán nhựa dài 10 cm, lưỡi kim loại sắc nhọn dài 11,5 cm. Thấy N cầm dao nên P từ phía sau ôm N lại, khuyên can nhưng N không nghe. N cầm dao tay phải đâm 01 cái vào vùng hông sườn trái của P thì P buông N ra, N chạy vòng lên phía trước gặp K thì đâm K 02 cái trúng vào lưng trái và mặt sau cẳng tay trái của K rồi bỏ chạy. K cầm cây cào cỏ, K1 cùng Phạm Tấn S cầm cây tầm vông đuổi theo và dùng cây cào cỏ, cây tầm vông đánh nhiều cái vào người N. N cầm dao trên tay phải, mũi dao hướng lên trên, xoay người từ trái sang phải đâm 01 cái hướng từ dưới lên trúng vào vùng ngực trái của S, làm S gục tại chỗ. S được đưa đi cấp cứu, còn N chạy vào nhà ông Nguyễn Phú Đ khóa cửa lại, sau đó đến Công an xã Truông Mít đầu thú.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1814/KL-KTHS ngày 24/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh T kết luận nguyên nhân Phạm Tấn S chết do vết thương vùng ngực trái thấu tâm thất phải, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, chếch lên trên do vật sắc nhọn gây ra.

Kết luận giám định số 1921/KL-KTHS ngày 19/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh T kết luận trên các vật chứng thu giữ và trên các dấu vết tại hiện trường có máu người phù hợp nhóm máu của Nguyễn Kỹ N (nhóm A), Phạm Tấn S, Phan Thanh K (nhóm B) và Đặng Hoài P (nhóm O).

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 05/2020/TgT ngày 13/01/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ thương tích của Phan Thanh K là 02%. K có đơn yêu cầu xử lý hình sự. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 07/2020/TgT ngày 13/01/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ thương tích của Đặng Hoài P là 01%. P không yêu cầu xử lý hình sự. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/2020/TgT ngày 13/01/2020 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Kỹ N là 37%.

Đặng Hoài P không yêu cầu xử lý hình sự nên không xem xét xử lý đối với Nguyễn Kỹ N;

Tại Công văn số 24/VPCQCSĐT ngày 08/01/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (bút lục 50) chuyển tin báo cho Công an huyện Dương Minh Châu để điều tra xử lý theo thẩm quyền đối với hành vi gây rối trật tự công cộng (Bản án sơ thẩm ghi là hành vi cố ý gây thương tích) của Phan Thanh K và Trần Công K1 đối với Nguyễn Kỹ N;

Tại Bản cáo trạng số 11/CTr-VKS-P2 ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T đã truy tố Nguyễn Kỹ N về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T đã quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Kỹ N 16 (mười sáu) năm tù về tội “Giết người”; 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/12/2019.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/6/2020, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận bị cáo có dùng dao nhọn đâm trúng anh K thương tích 2% và do bị anh K, anh K1, ông S cùng đánh bị cáo nên bị cáo dùng dao nhọn đâm trúng ông S làm ông S chết. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh đã xét xử nhưng đề nghị xem xét bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, phạm tội một phần cũng do lỗi của người bị hại đánh liên tục vào người bị cáo làm cho bị cáo hoảng loạn nên phải phòng vệ theo bản năng con người. Xét về tương quan lực lượng thì bị cáo chỉ có một mình phải chống trả sự tấn công của 3 người. Sau khi xét xử sơ thẩm thì gia đình bị cáo nộp tiền để bồi thường thiệt hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo được sớm về với gia đình.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xem xét đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết phúc thẩm. Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền bồi thường thiệt hại nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đồng thời việc cơ quan điều tra tách hành vi của anh K, anh K1 để xử lý sau cũng có ảnh hưởng đến việc xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo đối với tội “Giết người” nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, phạt tù từ 14 đến 15 năm tội “Giết người”; đối với tội “Cố ý gây thương tích” thì giữ nguyên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định pháp y tử thi, Kết luận giám định pháp y về thương tích, Biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của người bị hại, những người làm chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định ngày 11/12/2019, sau khi cự cãi vì không được hát Karaoke, bị cáo Nguyễn Kỹ N dùng dao nhọn gây thương tích cho Phan Thanh K tỷ lệ 2% rồi bỏ chạy thì Phan Thanh K, Trần Công K1 và Nguyễn Tấn S cầm cây đuổi theo đánh bị cáo, làm bị cáo dùng dao nhọn đâm trúng Phạm Tấn S chết. Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội;

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm. Bản án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, đầu thú, phạm tội cũng do bị S, K, K1 có lỗi đã tấn công bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã nộp 12.465.000 đồng để bồi thường thiệt hại nên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mới phát sinh; đồng thời, xét toàn diện vụ án thì bị cáo đã bỏ chạy ra bên ngoài hàng rào, nhưng các anh K, K1, S vẫn tiếp tục đuổi theo và cả ba người đều có dùng hung khí cùng lúc tấn công bị cáo dẫn đến việc bị cáo dùng dao đâm lại trúng ông S tử vong, nhưng Cơ quan điều tra lại tách ra xử lý sau đối với hành vi của K, K1 dùng hung khí tấn công bị cáo bị thương tích 37% cũng phần nào ảnh hưởng đến việc xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, lời bào chữa của các luật sư và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giảm một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Giết người” cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 khoản Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kỹ N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST ngày 03/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T về hình phạt đối với bị cáo về tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kỹ N phạm tội “Giết người” và phạm tội “Cố ý gây thương tích”,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Kỹ N 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Kỹ N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/12/2019.

3. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ