- Tranh chấp gì? "TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyeân boá: Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BAÛO LAÂM TÆNH LAÂM ÑOÀNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án soá: 59/2023/HSST Ngaøy: 07-8-2023. |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BAÛO LAÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa: OÂng Nguyeãn Đình Phong.
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:
- Bà: Nguyễn Thị Tài.
- Ông: Nguyễn Văn Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngaøy 07 thaùng 8 naêm 2023 taïi Hoäi tröôøng Tòa án nhân dân, huyeän Baûo Laâm, tænh Laâm Ñoàng xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá 56/2023/TLST-HS ngaøy 26/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023 ñoái với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1980 tại Bình Định;
NKTT: Thôn Mỹ Hòa, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định;
Chỗ ở: Tổ 3, TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12;
Con ông: Nguyễn Văn Lịnh (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1942, hiện trú tại phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chồng: Lê Văn Sang, sinh năm 1979, hiện trú tại phường Đập Đá, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2003;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2016 bị Công an TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến ngày 21/6/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cho bảo lĩnh.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa ).
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu N; Sinh năm: 1974 tại Quảng Ngãi;
NKTT và chỗ ở: Tổ 7, TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ;
Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 09/12;
Con ông: Nguyễn Văn Hành, sinh năm 1939, Con bà Dương Thị Tám, sinh năm 1939, hiện trú tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L;
Chồng: Phạm Thanh Hoàng, sinh năm 1973, hiện trú tại tổ 7, TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa ).
3. Họ và tên: Ka R; Sinh năm: 1978 tại Lâm Đồng;
NKTT và chỗ ở: Tổ 4, TT, Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Châu Mạ; Tôn giáo: Đạo Thiên chúa; Giới tính: Nữ;
Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 01/12;
Con ông: K’Dáo (đã chết ), Con bà Ka Rôm (đã chết). Chồng: Nguyễn Thanh Long, sinh năm 1977, hiện trú tại TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L. Bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa ).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Ka D, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
( Có mặt ).
2. Anh K’ Minh N, sinh năm: 1997
Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
( Vắng mặt ).
3. Chị Hoàng Thị T, sinh năm: 1979
Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
( Vắng mặt ).
4. Chị Ka L, sinh năm: 1998
Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
( Vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Quá trình điều tra đã xác định: Nguyễn Thị T có quán tạp hóa tại tổ 3, TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L, từ khoảng tháng 6/2022 đến ngày 27/12/2022, Nguyễn Thị T nhiều lần tổ chức cho người khác đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề. Các con số khách ghi đề tự chọn, gồm 02 hoặc 03 con số ghi cho T, lấy kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc (Xổ số kiến thiết Hà Nội), miền Nam (Gồm xổ số Tp. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Tiền Giang) và miền Trung (Xổ số Đà Nẵng) để dò trúng các số đầu hoặc số cuối của kết quả xổ số. Mức độ ăn thua được tính như sau: Đầu, đuôi tức là mua 02 số trùng với 02 số ở giải tám hoặc 02 số cuối của giải đặc biệt theo tỉ lệ thắng thua là 01x70 (đặt 1 ăn 70), bao lô 02 số tức là mua 02 con số bất kì nếu trùng với 02 con số cuối của tất cả các giải thì tỉ lệ thắng thua bạc là 01x70 (đặt 1 ăn 70). Nếu khách đánh đầu, đuôi và bao lô bằng 03 con số thì tỷ lệ thắng thua bạc là 01x550 (đặt 1 ăn 550). Số đá là mua 02 cặp số bất kỳ nếu trùng với 02 số cuối của tất cả các giải thì tỷ lệ thắng thua bạc là 01x550 (đặt 1 ăn 550).
Qua 18 tờ phơ đề và tin nhắn thu giữ được xác định Nguyễn Thị T đã ghi đề cụ thể như sau:
Một phơ đề không ghi ngày, tháng ghi đề cho khách theo đài miền Nam, tổng số tiền ghi trên phơ đề là 3.277.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 2.543.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 0 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.277.000 đồng, thu lợi bất chính 2.543.000 đồng.
Ngày 14/12/2022, ghi đề cho Ka R qua tin nhắn mạng xã hội Zalo theo đài miền Nam và miền Trung, tổng số tiền ghi trên phơ đề là 17.999.000 đồng, tổng số tiền thực nhận là 14.050.000 đồng, không có con số trúng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 17.999.000 đồng, thu lợi bất chính 14.050.000 đồng.
Ngày 15/12/2022, ghi đề cho Ka R qua tin nhắn mạng xã hội Zalo theo đài miền Nam, tổng số tiền ghi trên phơ đề là 14.430.000 đồng, tổng số tiền thực nhận là 11.140.000 đồng, số tiền chi trả cho Ka R trúng đề là 16.800.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 31.230.000 đồng, thu lợi bất chính 0 đồng.
Ngày 23/12/2022, ghi đề cho khách theo đài miền Bắc, tổng số tiền ghi trên phơ đề là 5.773.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 4.936.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 1.500.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 7.273.000 đồng, thu lợi bất chính 3.436.000 đồng.
Ngày 25/12/2022, ghi đề cho khách theo đài miền Bắc, tổng số tiền ghi trên phơ đề là 2.099.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 1.825.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 1.500.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.599.000 đồng, thu lợi bất chính 325.000 đồng.
Ngày 26/12/2022, ghi đề cho khách theo đài miền Bắc và đài miền Nam:
- Đài miền Bắc: Tổng số tiền ghi trên phơ đề là 6.040.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 5.217.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 2.625.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.665.000 đồng, thu lợi bất chính 2.592.000 đồng.
- Đài miền Nam: Tổng số tiền ghi trên phơ đề là 1.875.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 1.456.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 2.800.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 4.675.000 đồng, thu lợi bất chính 0 đồng.
Như vậy, tổng số tiền ghi trên phơ đề (02 đài) trong ngày là 7.915.000 đồng, tổng số tiền thực nhận của khách là 6.673.000 đồng, số tiền chi trả cho khách trúng đề là 5.425.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 13.340.000 đồng, thu lợi bất chính 1.248.000 đồng.
Ngày 27/12/2023, ghi cho Ka R với số tiền ghi trên phơ đề là 10.120.000 đồng qua tin nhắn mạng xã hội Zalo, ghi cho Ka D với số tiền là 140.000 đồng, ghi cho các đối tượng khác số tiền 13.739.000 đồng. Tổng số tiền trên phơ đề là 23.919.000 đồng, số tiền thực nhận của khách là 18.568.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Thị T chuyển toàn bộ phơ đề ghi trong ngày cho Nguyễn Thị Thu N, N sẽ trả tiền công cho T 10% trên tổng số tiền ghi đề. Nguyễn Thị Thu N nhận toàn bộ phơ đề này từ T qua tin nhắn mạng xã hội Zalo và xác định sẽ trả cho T tiền công. Tuy nhiên, khi chưa có kết quả xổ số, N chưa trả tiền cho T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị T tổ chức đánh bạc là 100.637.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 34.510.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị Thu N tổ chức đánh bạc là 23.919.000 đồng. Tổng số tiền Ka R đánh bạc là 59.349.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Cáo trạng số 62/CT-VKSBL ngày 23/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N về tội: Tổ chức đánh bạc, theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ka R về tội: Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 12 đến 15 tù, được trừ đi thời gian tạm giam.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị T từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ka R từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng: 18 tờ giấy ghi nhiều chữ số khác nhau (phơ đề); 01 tờ giấy A4 ghi nhiều chữ số khác nhau lưu theo hồ sơ vụ án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy kích thước 14x18x20cm, bên trong có chứa một số tờ giấy, giấy than, tờ A4 được cắt sẵn; 01 kéo dài 16cm;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 máy tính hiệu Casino MZ-125 12 DiGITS màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus của bị cáo Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus có gắn sim thuê bao 0918.564.101 của bị cáo Nguyễn Thị Thu N.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T là 34.510.000 đồng bị cáo T nộp tại biên lai thu tiền số 0005472 ngày 28/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L và 140.000 đồng tiền đánh bạc của Ka D.
Trả lại cho Ka D 60.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo T số tiền 4.890.000 đồng thu giữ của bị cáo T
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Bảo L; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp lời khai người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Từ khoảng tháng 6/2022 đến ngày 27/12/2022, tại tổ 3, TT. Lộc Thắng, huyện Bảo L bị cáo Nguyễn Thị T có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề cho nhiều người trong đó ghi cho bị cáo Ka R với số tiền đánh bạc là 59.349.000 đồng. Ngày 27/12/2022 bị cáo Nguyễn Thị T đã ghi đề và chuyển toàn bộ phơ đề ghi trong ngày cho bị cáo Nguyễn Thị Thu N với tổng số tiền đánh bạc là 23.919.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị T dùng để đánh bạc là 100.637.000 đồng, thu lợi bất chính 34.510.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N đã phạm tội: Tổ chức đánh bạc, theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Ka R đã phạm tội: Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo L truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo T đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, bị cáo N có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo T, N được xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và bị cáo Ka R phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và bị cáo Ka R.
Bị cáo N không có T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Ngày 07/9/2016 bị cáo T bị Công an thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô đề mặc dù bị cáo đã đóng phạt ngày 08/9/2016 nhưng bị cáo không chịu làm ăn chân chính mà tiếp tục tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề nên hình phạt của bị cáo T phải nghiêm khắc hơn các bị cáo khác, do vậy cần cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo N và bị cáo Ka R có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội vì vậy cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N và bị cáo Ka R cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị T. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Ka R do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 18 tờ giấy ghi nhiều chữ số khác nhau (phơ đề); 01 tờ giấy A4 ghi nhiều chữ số khác nhau lưu theo hồ sơ vụ án.
Các công cụ phục vụ vào việc tổ chức đánh bạc do không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy kích thước 14x18x20cm, bên trong có chứa một số tờ giấy, giấy than, tờ A4 được cắt sẵn; 01 kéo dài 16cm;
Các công cụ phục vụ vào việc tổ chức đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước : 01 máy tính hiệu Casino MZ-125 12 DiGITS màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus của bị cáo Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus có gắn sim thuê bao 0918.564.101 của bị cáo Nguyễn Thị Thu N
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T là 34.510.000 đồng bị cáo T đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005472 ngày 28/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L và 140.000 đồng tiền đánh bạc của Ka D.
Trả lại cho Ka D 60.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo T số tiền 4.890.000 đồng thu giữ của bị cáo T nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc Thi hành án
Các vấn đề khác : Trong vụ án bị cáo Nguyễn Thị T khai các lần ghi đề cho khách sau đó đều chuyển cho bị cáo Nguyễn Thị Thu N nhưng bị cáo N không T nhận, chỉ T nhận nhận số đề của bị cáo T vào ngày 27/12/2022, không có căn cứ chứng minh bị cáo N nhận toàn bộ phơ đề từ bị cáo T nên không có căn cứ xử lý.
Các đối tượng Ka D, Ka L, Hoàng Thị T, K’ Minh N có hành vi tham gia đánh bạc tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan CSĐT xử lý hành chính là có căn cứ.
Đối với một số đối tượng thực hiện hành vi ghi đề với bị cáo Nguyễn Thị T nhưng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách ra xử lý sau.
Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N, Ka R phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyeân boá: Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”.
Bị cáo Ka R phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 12 ( Mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến ngày 21/6/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị T 20.000.000 ( Hai mươi triệu ) đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 70.000.000 ( Bảy mươi triệu ) đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ka R 40.000.000 ( Bốn mươi triệu ) đồng.
2. Veà xöû lyù vaät chöùng: Aùp duïng Đieàu 47 Boä luaät hình söï, Đieàu 106 Boä luaät toá tuïng hình söï: Lưu theo hồ sơ vụ án 18 tờ giấy ghi nhiều chữ số khác nhau (phơ đề); 01 tờ giấy A4 ghi nhiều chữ số khác nhau
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy kích thước 14x18x20cm, bên trong có chứa một số tờ giấy, giấy than, tờ A4 được cắt sẵn; 01 kéo dài 16cm;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 máy tính hiệu Casino MZ-125 12 DiGITS màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus của bị cáo Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus có gắn sim thuê bao 0918.564.101 của bị cáo Nguyễn Thị Thu N
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T là 34.510.000 đồng bị cáo T nộp tại biên lai thu tiền số 0005472 ngày 28/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L và 140.000 đồng tiền đánh bạc của Ka D.
Trả lại cho Ka D 60.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 4.890.000 đồng thu giữ của bị cáo T nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc Thi hành án
3. Veà aùn phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 cuûa Uyû ban Thöôøng vuï Quoác hoäi qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buoäc bò caùo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu N, Ka R mỗi bị cáo phải noäp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 07/8/2023 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan ).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS H Bảo L; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Đình Phong |