vanban.org

Bản án 59/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A C: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18 tháng 01 năm 2026. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2026/HS-ST
Ngày 20/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Thùng Văn Quân

2. Bà Nguyễn Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Giàng A C sinh ngày 10 tháng 10 năm 1983 tại xã Tà Lèng, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản H, xã N, tỉnh Điện Biên; Số CCCD: 011083001766; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công An; nghề nghiệp: nông nghiêp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A D sinh năm 1963 và con bà Tráng Thị C sinh năm 1965; Bị cáo Giàng A C có vợ Hảng Thị M, có 02 con lớn nhất 22 tuổi nhỏ nhất 19 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Giàng A C bắt tạm giam từ ngày 18 tháng 01 năm 2026 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A C: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối năm 2023 bị cáo Giàng A C vào tài khoản Facebook thì thấy có video quảng cáo bán súng PCP (súng nén hơi) và đăng kèm theo số điện thoại Zalo. Bị cáo Giàng A C đã vào số điện thoại đăng ở video thì được một người nam giới nghe, khi bị cáo Giàng A C hỏi mua súng nén hơi thì người này giới thiệu là có bán nhiều loại súng nén hơi có nhiều mức giá khác nhau. Qua trao đổi thì bị cáo Giàng A C đã mua được 01(một) khẩu súng nén hơi và có kèm theo 02(hai) lọ nhựa đựng viên đạn kim loại với trị giá là 4.000.000đồng mục đích để bắn con chim, con sóc. Người bán và bị cáo Giàng A C thỏa thuận tháo súng thành 03(ba) bộ phận khác nhau và giao hàng xong mới thanh toán cho người giao hàng. Sau đó bị cáo Giàng A C xem video hướng dẫn lắp giáp súng, sau đó đi cất giấu súng trong rừng. Đến khoảng 06 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2026 bị cáo Giàng A C đi bộ một mình từ nhà bản H, xã N, tỉnh Điện Biên với mục đích đi đến chỗ cất giấu khẩu súng và 02(hai) lọ nhựa đựng viên đạn kim loại ở trong rừng đi cất giấu nơi khác. Khi bị cáo Giàng A C đang cầm trên tay 02(hai) lọ nhựa đựng đạn kim loại và đeo khẩu súng sau lưng. Vào hồi 07 giờ 25 phút ngày 15 tháng 01 năm 2026 khi bị cáo Giàng A C đang đứng ở bụi tre thuộc khu vực rừng đặc dụng xã N, tỉnh Điện Biên bị tổ công tác Phòng an ninh điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Công an xã N đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án gồm : 01(một) khẩu súng nén hơi, 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02(hai) lọ nhựa đựng 398 viên đạn kim loại.

Bản kết luận giám định số: 63/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận.

- 01(một) khẩu súng gửi giám định là súng nén hơi cỡ nòng 5,5mm, thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo phụ lục 1 Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ công an. Tính năng, tác dụng, tình trạng hoạt động: Súng có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất. Hiện còn sử dụng để bắn được.

- Số lượng 398 viên, là đạn kim loại hình nấm cỡ 5,5mm, thường sử dụng cho các loại súng nén khí, súng nén hơi cỡ nòng 5,5mm, thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo phụ lục 1 Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ công an. Sử dụng cho khẩu súng gửi giám định trên. Quá trình giám định, giám định viên đã sử dụng 03(ba) viên đạn gửi giám định để bắn thực nghiệm.

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSDBN-P1 ngày 13 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố Giàng A C để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 304 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt bị cáo Giàng A C từ: 01(một) năm tù đến: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 304 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng A C không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị không buộc bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 304 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Giàng A C nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 07 giờ 25 phút ngày 15 tháng 01 năm 2026 khi bị cáo Giàng A C đang đứng ở bụi tre thuộc khu vực rừng đặc dụng xã Nậm Kè, tỉnh Điện Biên bị tổ công tác Phòng an ninh điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Công an xã Nậm Kè đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án gồm : 01(một) khẩu súng nén hơi, 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02(hai) lọ nhựa đựng 398 viên đạn kim loại.

Hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng: 01(một) khẩu súng nén hơi, 01(một) túi nilon màu xanh bên trong có 02(hai) lọ nhựa đựng 398 viên đạn kim loại. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ.

1.Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

[2] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo Giàng A C thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Giàng A C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

[4] Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX.

Xử phạt bị cáo Giàng A C từ: 01(một) năm tù đến: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS có căn cứ nên được áp dụng. Đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội do đó HĐXX chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông bán 01(một) khẩu súng nén hơi và 398 viên đạn kim loại và người đàn ông giao 01(một) khẩu súng nén hơi và 398 viên đạn kim loại. Do bị cáo Giàng A C không biết tên, địa chỉ hai người này ở đâu nên Cơ quan ANĐT không có cơ sở để xác minh làm rõ. Do đó HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS;

Áp dụng khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) khẩu súng được bọc kín bằng nilon và quấn băng dính trong suốt bên ngoài có dán 01(một) tờ giấy niêm phong màu trắng, trên giấy có ghi: “Hoàn lại khẩu súng theo kết luận giám định số: 63 ngày 16/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên” là vật chứng vụ án.

- Số lượng 395 viên đạn kim loại (còn lại sau giám định) được cho vào 01(một) túi nilon (dạng túi zíp) gắn kín miệng túi được cho vào 01(một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi “Hoàn lại các viên đạn kim loại theo kết luận giám định số: 63 ngày 16/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên”;

- 01(một) chiếc túi nilon màu xanh, đã qua sử dụng.

- 01(một) lọ nhựa hình trụ, màu trắng có nắp đậy có chiều cao khoảng 80cm x 05cm là hộp đựng thuốc đã qua sử dụng.

- 01(một) lọ nhựa hình trụ, màu đen có nắp đậy có chiều cao khoảng 06cm x 03cm là hộp đựng thuốc đã qua sử dụng, phía ngoài có dán tem chữ nước ngoài.

[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị không buộc bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A C: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giam ngày 18 tháng 01 năm 2026.

3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS;

Áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: - 01(một) khẩu súng được bọc kín bằng nilon và quấn băng dính trong suốt bên ngoài có dán 01(một) tờ giấy niêm phong màu trắng, trên giấy có ghi: “Hoàn lại khẩu súng theo kết luận giám định số: 63 ngày 16/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên”.

- Số lượng 395 viên đạn kim loại (còn lại sau giám định) được cho vào 01(một) túi nilon (dạng túi zíp) gắn kín miệng túi được cho vào 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi “Hoàn lại các viên đạn kim loại theo kết luận giám định số: 63 ngày 16/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên”;

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 01 năm 2026 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Điện Biên và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Điện Biên.

Tịch thu tiêu hủy: - 01(một) chiếc túi nilon màu xanh, đã qua sử dụng.

- 01(một) lọ nhựa hình trụ, màu trắng có nắp đậy có chiều cao khoảng 80cm x 05cm là hộp đựng thuốc đã qua sử dụng, bên trong lọ nhựa không có gì.

- 01(một) lọ nhựa hình trụ, màu đen có nắp đậy có chiều cao khoảng 06cm x 03cm là hộp đựng thuốc đã qua sử dụng, phía ngoài có dán tem chữ nước ngoài, bên trong lọ nhựa không có gì.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 4 năm 2026 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Điện Biên.

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 /12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 BLTTHS. Bị cáo Giàng A C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 5 năm 2026).

Cỡ chữ