- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn P 318 - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2026/HS-ST Ngày 23 – 4 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hiếu
Ông Nguyễn Bá Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Hà Văn P (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/8/1988 tại Phú Thọ.
Nơi cư trú: phố Bãi Nai, phường Kỳ Sơn, tỉnh PT. Nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: tổ 5, phường T Hoà, tỉnh PT. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Xuân Ph (đã chết), con bà Lê Thị H sinh năm 1955; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: có 02 tiền án:
- Ngày 28/8/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh HB, xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án số 15/2009/HSST; bị cáo kháng cáo. Tại Bản án số 01/2010/HSPT ngày 18/01/2010, Tòa án nhân dân tỉnh HB xử giữ nguyên toàn bộ quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí sơ thẩm.
- Ngày 29/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh HB xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại bản án số 7A/2019/HSST; bị cáo kháng cáo. Ngày 01/4/2029, Tòa án nhân dân tỉnh HB xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo P, xử phạt 06 (sáu) tháng tù giam tại Bản án số 15/2019/HSPT. Bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí sơ thẩm.
Nhân thân: Ngày 05/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố HB, tỉnh HB xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 14/2021/HSST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh PT. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1967; Trú tại: Tổ 1 (Hữu Nghị cũ), phường Hoà Bình, tỉnh PT. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn P là lao động tự do tại tổ 5, phường T Hoà, tỉnh PT. Vào khoảng 23 giờ ngày 17/12/2025, P cùng bạn bè, người thân tổ chức ăn cơm, uống rượu tại nhà, đến khoảng 01 giờ ngày 18/12/2025 tất cả đến quán karaoke Top One đối diện nhà P tiếp tục ăn uống và hát đến 04 giờ sáng cùng ngày. Khi P về thì gặp một nhóm thanh niên đi qua đường và có cãi nhau với nhóm thanh niên này. Anh Phạm Trung Đ, sinh năm 1997, trú tại tổ 19, (phường T Thịnh cũ) phường Hòa Bình, tỉnh PT có quen biết P nhìn thấy và bảo P về, thấy P có biểu hiện say xỉn, gây sự với người xung quanh nên anh Đ bỏ về. Anh Đỗ Xuân T làm nghề lái xe taxi ở gần đó khi thấy P có biểu hiện say rượu, đứng gần dọa dẫm anh Đ nên đã xuống xe, hỏi chuyện và khuyên bảo P về nhà. Do bản thân đã uống say, P cho rằng anh T có lời nói, hành động thách thức, khiêu khích mình nên đã chạy về nhà ở gần đó cầm 01 (một) con dao bằng kim loại, cán gỗ có đinh tán (dạng dao chặt, bị rỉ, dài 29cm, rộng 9cm thường dùng để chặt mía bán hàng nước) để thị uy, đuổi theo đe dọa, chém vào xe ô tô và chém về phía anh T nhưng anh T né được và chạy sang phía cửa quán karaoke Top One. Thấy vậy anh Vũ Mạnh T1, sinh năm 1993, trú tại tổ 2, (phường Hữu Nghị cũ), phường Hòa Bình, tỉnh PT đứng ra can ngăn và khuyên P đi về, lúc này anh T cũng quay lại xe ô tô và lái xe đi về phía đường Phùng Hưng. Khi xuống xe, anh T đứng gọi điện thoại thì P nhìn thấy, cho rằng anh T vẫn thách thức mình nên P tiếp tục cầm dao đuổi theo anh T, dồn anh T vào góc tường nhà cửa hàng bán tạp hóa trên đường Phùng Hưng. Khi anh T bị trượt chân ngã thì P túm chân, lôi lại rồi liên tục dùng dao chém xuống đất, chém vào tường gần vị trí anh T đứng, có lời lẽ đe dọa, chửi bới anh T. Lúc này chị Lò Thị Nga là bạn của P và anh Vũ Mạnh Toàn can ngăn nên P dừng lại.
Hành vi đuổi đánh, dọa chém anh T của Hà Văn P diễn ra vào rạng sáng ngày 18/12/2025 gây ồn ào, huyên náo tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hòa Bình và đường Phùng Hưng thuộc tổ 1 phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ, làm quần chúng nhân dân tại khu vực hoang mang, lo sợ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Ngày 18/12/2025 anh Đỗ Xuân T đã đến Công an phường Hòa Bình trình báo, đề nghị xử lý Hà Văn P theo quy định của pháp luật.
Đối với thương tích của anh Đỗ Xuân T, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số B92/KLTTCT-PYPT ngày 29/12/2025 kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT – BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Xuân T tại thời điểm giám định là: 0,0% (Không phần trăm).”
Đối với vật chứng là hung khí Hà Văn P sử dụng, kết luận giám định vũ khí số 64/KL-KTHS ngày 05/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Mẫu vật gửi giám định không phải là vũ khí theo quy định tại luật số 42/2024/QH15 ngày 29/06/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.”
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ video clip do anh Đỗ Xuân T cung cấp tại hiện trường khi xảy ra vụ việc. Kết luận giám định số 1397/KLGĐ-KTHS ngày 16/03/2026 Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định.”
*Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- 01 (Một) con dao bằng kim loại, một mặt có chữ SAKE JAPPAN, cán gỗ có đinh tán, đầu dao có lỗ trao, bản rộng 9,5cm, lưỡi dao dài 18,5cm, tổng chiều dài dao 29,5cm đã qua sử dụng.
- 01 (một) USB màu xanh, bên trong có 01 file chứa 04 video do anh Đỗ Xuân T giao nộp đã được niêm phòng kèm theo hồ sơ vụ án.
*Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Xuân T bị thiệt hại về sức khỏe 0%, không có yêu cầu bồi thường về sức khỏe, tinh thần.
Cáo trạng số 20/CT-VKSKV12 ngày 03/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ truy tố Hà Văn P về tội: Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b, điểm e khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – PT giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng b, điểm e khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định.
Về án phí: yêu cầu bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hà Văn P không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội và chăm sóc mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an tỉnh Phú Thọ, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – PT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Xuân T vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), đã có lời khai trình bày ý kiến của mình trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt anh T không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt anh Đỗ Xuân T.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hà Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Ngày 18/12/2025 sau khi đã uống rượu, P đã đã có hành vi dùng 01 (một) con dao (bằng kim loại, tổng chiều 29,5cm) để đe dọa, đuổi đánh anh Đỗ Xuân T, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và đời sống sinh hoạt bình thường của người dân tại khu vực tổ 1, phường Hữu Nghị cũ nay là phường Hòa Bình, tỉnh PT.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – PT truy tố bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b, điểm e khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Hà Văn P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi gây rối trật tự tại nơi công cộng sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người, gây mất ổn định, tính có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng nhưng vẫn thực hiện là lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm quy tắc sống lành mạnh, nếp sống văn minh, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích; bản thân đang có 02 tiền án chưa được xóa án tích: về tội Cướp tài sản và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; hơn nữa khi thực hiện hành vi gây rối bị cáo sử dụng hung khí; đây là các tình tiết định khung được quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, có thái độ hung hăng, thích thể hiện bản thân, coi thường pháp luật. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo sống với mẹ già hết tuổi lao động trên 70 tuổi, bị cáo là lao động chính trong gia đình . Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Xuân T không yêu cầu bị cáo bồi thường về sức khoẻ, tinh thần nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- Đối với 01 con dao bằng kim loại, một mặt có chữ SAKE JAPPAN, tổng chiều dài 29,5cm đã qua sử dụng: xét đây là vật chứng của vụ án, bị cáo dùng để thực hiện hành vi gây rối cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 USB màu xanh, bên trong có 01 file chứa 04 video do anh Đỗ Xuân T giao nộp: xét đây là các video ghi lại hình ảnh bị cáo phạm tội, cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo Hà Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b, e khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hà Văn P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 19/12/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
*. Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) P bì màu nâu dán kín. Một mặt có ghi: “Túi niêm P ký hiệu: PS1; Vụ: Hà Văn P – Gây rối trật tự công cộng; Tên vụ: Kèm theo kết luận giám định số 64 ngày 05/01/2026; Tên mẫu vật: của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ”. Trên về mặt được đóng 01 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký thành phần tham gia niêm P.
(Chi tiết vật chứng được nêu tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 73/BB-GNVC ngày 22/4/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Phú Thọ).
- Tiếp tục lưu tại Hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu xanh, bên trong có 01 file chứa 04 video đánh số lần lượt là 0268, 0269, 0270, 0271 do anh Đỗ Xuân T giao nộp (thu giữ theo biên bản giao nhận đồ vật tài liệu ngày 19/12/2025)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Văn P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh PT; - VKSND tỉnh PT; - Sở tư pháp tỉnh PT; - VKSND KV12-PT; - CQ THADS tỉnh PT; - Phòng PC 10 – CATPT; - Phòng PV06-CATPT; - Phòng THADS12-PT; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |