vanban.org

Bản án 59/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Thị T - Lý Hoàng K"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11/03/2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Bùi Chí Tâm

Ông Nguyễn Việt Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Niềm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị T, sinh ngày 17/09/1996. (Vắng mặt)

Căn cước công dân số: …………………., ngày cấp 05/07/2022.

Địa chỉ: ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Lý Hoàng K, sinh ngày 18/06/1988. (Vắng mặt)

Căn cước công dân số: ………………, ngày cấp 26/03/2024.

Địa chỉ cư trú: ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ.

Nơi ở hiện nay: ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 29/9/2025, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Thạch Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Lý Hoàng K được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới vào đầu năm 2016 và đăng ký kết hôn ngày 28/02/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Cần Thơ).

Sau khi cưới thì hai vợ chồng chị đi Bình Dương làm thuê, sống ở Bình Dương, sau này mới về quê ở nhà bà ngoại ruột của chị tại ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ. Quá trình sống chung vợ chồng chị thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, có nhiều mâu thuẫn, anh K không lo lắng, chăm sóc vợ con, rồi đi làm về không đưa tiền cho vợ sinh hoạt trong gia đình, từ lúc ly thân đến nay thì chị và anh K không còn liên lạc với nhau. Chị T đã ly thân với anh K từ tháng 4/2023 đến nay. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Lý Hoàng K. Đồng thời xin được vắng mặt khi xét xử.

Về con chung: Chị T và anh Lý Hoàng K có hai con chung gồm là các cháu Lý Bảo T1, sinh ngày 18/9/2017; Lý Bảo H, sinh ngày 12/12/2020, hiện nay các cháu đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn: chị T không yêu cầu xem xét.

2/ Bị đơn anh Lý Hoàng K: Anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị T nhưng anh K không có ý kiến phản đối, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Thạch Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Lý Hoàng K cư trú tại ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ, ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề gì. Nên Tòa án xác định loại kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Thạch Thị T vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lý Hoàng K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị T và anh Lý Hoàng K là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 28/02/2017 chị T và anh K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã P, thành phố C) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh K, theo chị T cho rằng chị T và anh K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, anh K không lo lắng, chăm sóc vợ con, mâu thuẫn về kinh tế trong gia đình, từ lúc ly thân đến nay thì chị T và anh K không còn liên lạc với nhau từ tháng 4/2023 đến nay. Nên chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Lý Hoàng K. Anh K không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị T, bỏ mặc quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị T. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của chị T và anh K đã không còn sự quan tâm, thương yêu dành cho nhau, không còn tin tưởng nhau, mâu thuẫn giữa chị T và anh K là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Lý Hoàng K.

Về con chung: Chị Thạch Thị T và anh Lý Hoàng K có có hai con chung gồm là các cháu Lý Bảo T1, sinh ngày 18/9/2017; Lý Bảo H, sinh ngày 12/12/2020, hiện nay các cháu đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, anh K không có ý kiến phản đối, cháu T1 hiện nay đã hơn 08 tuổi và cháu T1 có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ sau khi cha mẹ ly hôn; còn cháu H hiện nay chỉ mới hơn 06 tuổi. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa chị T và anh K không thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định về việc giao con cho ai nuôi dưỡng. Do cháu T1 hiện nay đã hơn 07 tuổi và cháu T1 có nguyện vọng sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn nên cần tôn trọng nguyện vọng của cháu T1; Còn cháu H hiện nay chủ đủ 07 tuổi nhưng đang được mẹ ruột là chị T nuôi dưỡng. Cho nên cần ổn định môi trường sống, ổn định tâm lý trẻ em nên quyết định giao các cháu T1 và H cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp về mặt tâm sinh lý, hoàn cảnh của các cháu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho anh Lý Hoàng K theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Thạch Thị T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007955 ngày 29/10/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Anh Lý Hoàng K không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị T được ly hôn với anh Lý Hoàng K.

2/ Về con chung: Giao các cháu Lý Bảo T1, sinh ngày 18/9/2017; Lý Bảo H, sinh ngày 12/12/2020 cho chị Thạch Thị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Lý Hoàng K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí sơ thẩm:

Buộc chị Thạch Thị T phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Thạch Thị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007955 ngày 29/10/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Anh Lý Hoàng K không phải chịu án phí.

5/ Quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ