vanban.org

Bản án 59/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H đối với chị Nguyễn Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hà Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị S. Về con chung: Giao hai con chung Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017 cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, từ tháng 5 năm 2026 trở đi, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn H - Nguyễn Thị S"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H đối với chị Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2026/HNGĐ-ST
Ngày 14/5/2026
V/v: Tranh chấp về ly hôn và giao nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sầm Thị Thanh S

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hường.

2. Bà Trương Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10

- Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 67/2026/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa 39/2026/QĐST ngày 29 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hà Văn H, sinh ngày 10/03/1990.

Trú tại: Bản V, xã Q, tỉnh Nghệ An. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/4/1995. Trú tại: Bản N, xã C, tỉnh Nghệ An. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

(Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2026 và qua lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Hà Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị S đăng ký kết hôn ngày 09/7/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Châu B, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Châu T, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, giữa vợ cHphát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ cHđã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh Hvà chị S không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Nay anh Hà Văn H nhận thấy vợ cHkhông còn tình cảm nên viết đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị S.

Về con chung: Giữa anh và chị S có hai con chung là Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017. Quá trình giải quyết vụ án, anh Hcó nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và anh không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh Hkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị S vắng mặt: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo hoãn phiên họp, hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị S đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được.

Kết quả xác minh tại Công an xã Châu T, tỉnh Nghệ An: Trong phần mềm Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, chị Nguyễn Thị S hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản N, xã C, tỉnh Nghệ An.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Châu T, tỉnh Nghệ An: Anh Hà Văn H và chị Nguyễn Thị S có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Châu B, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là xã Châu T, tỉnh Nghệ An vào ngày ngày 09/7/2015, đăng ký kết hôn giữa hai bên là hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa anh Hà Văn H và chị Nguyễn Thị S phát sinh mâu thuẫn cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ. Hiện tại, anh Hà Văn H và chị Nguyễn Thị S đã sống ly thân. Anh H và chị S có hai con chung là Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017. Anh Hlàm đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị S, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An tại phiên tòa:

Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không chấp hành đúng quy định, vắng mặt tại các buổi làm việc. Nguyên đơn anh Hà Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó cần xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28; 35; 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cần chấp nhận cho anh Hà Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị S.

Về con chung: Giao con chung Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017 cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 5/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị S. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh Hà Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc anh Hà Văn H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn anh Hà Văn H có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn đối với chị Nguyễn Thị S và có nguyện vọng nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của vợ chồng, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị S có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản N, xã C, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo hoãn phiên họp, hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị S đều vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Hà Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn H và chị Nguyễn Thị S đăng ký kết hôn ngày 09/7/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Châu B, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là xã Châu T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa anh H và chị S là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, các bên không tìm được giải pháp khắc phục mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng báo chị S đến để hòa giải tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ, nhưng chị S đều vắng mặt không có lý do. Anh H xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân với chị S nên vẫn giữ nguyên nguyện vọng xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị S. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hòa giải để quay trở lại chung sống, đoàn tụ với nhau. Do đó, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Hà Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị S.

Về con chung: Qua xác minh tại địa phương, xem xét hoàn cảnh, môi trường sống và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con và ý kiến của anh H và con chung, xét thấy cần giao hai con chung Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017 cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, từ tháng 5 năm 2026 trở đi, cho đến lúc các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với cho chị Nguyễn Thị S. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hà Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Hà Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 51, 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Các Điều 28, 35; 39; 147; khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H đối với chị Nguyễn Thị S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hà Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị S.

2. Về con chung: Giao hai con chung Hà Anh Tùng Q, sinh ngày 28/01/2016 và Hà Bảo A, sinh ngày 14/10/2017 cho anh Hà Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, từ tháng 5 năm 2026 trở đi, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị S.

Chị Nguyễn Thị S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Anh Hà Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Hà Văn H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001832 ngày 19/3/2026 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ