- Tranh chấp gì? án hình sự — "KIM SÔ P TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kim Sô P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 09-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Lin
2. Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Đông Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Kim Sô P, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/1988 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi thường trú: Số nhà H, ấp G, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim S, sinh năm 1963 (sống) và bà Thạch Thị Sô P1, sinh năm 1968 (sống). Anh, chị, em ruột: Có 01 người em sinh năm 1990, không có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/11/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH K1
Địa chỉ: Lô C đường số C, KCN T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
Người đại diện theo pháp luật: Ông Zhu Lin M- Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Kiều L, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Kim S1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
2. Anh Hà Văn Minh H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Võ Tấn C, sinh năm 1991 (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Thanh K, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, Kim Sô P đến Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam) ngụ tại Đường số C, Khu công nghiệp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để làm việc tại khu vực chạy dây đồng. Khoảng 02 giờ ngày 22/9/2024, P nhìn thấy thùng nhựa gần khu vực máy ủ có nhiều dây đồng sợi bị cắt bỏ (bị lỗi trong quá trình quấn dây), lợi dụng lúc khu vực làm việc không có người nên P nảy sinh ý định lấy trộm dây đồng bị lỗi của công ty đem ra bên ngoài bán lấy tiền tiêu xài. Phát cuộn các sợi dây đồng thành 05 cuộn rồi quấn nilon phía bên ngoài, P cất giấu 01 cuộn dây đồng vào bên trong túi vải màu đen (P đem theo khi làm việc), cất giấu 01 cuộn dây đồng vào ca nhựa màu đỏ (P đem theo dùng để dựng nước uống) và cất giấu 03 cuộn dây đồng còn lại vào túi quần đang mặc trên người. Sau đó, P đem 05 cuộn dây đồng đến nhà để xe của công ty để cất giấu vào trong cốp xe mô tô biển số 67H1-005.54 của P. Đến khoảng 07 giờ 35 phút ngày 22/9/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 67H1-005.54 ra cổng để đi về bị lực lượng bảo vệ của công ty kiểm tra và phát hiện. Sau đó, bà Phan Thị Kiều L là đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam) đến Đồn Công an Khu công nghiệp T, huyện Đ, tỉnh Long An tố cáo sự việc nêu trên và yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật hình sự.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra: Kim Sô P khai nhận với thủ đoạn tương tự đã lấy trộm 01kg dây đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam) vào ngày 21/9/2024 tuy nhiên không bị phát hiện và P đã bán cho người thu mua phế liệu (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 110.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 05 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có tổng trọng lượng là 16,88 kgtrong đó: 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 4,6kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 2,5kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 4kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 3,28kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 2,5kg; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh, số khung 125667, số máy 125667, biển số 67H1-005.54; 01 túi xách vải màu đen, kích thước (25 x 30 x 5)cm; 01 ca nhựa màu đỏ, cao 25cm, đường kính 13cm; tất cả thu giữ của Kim Sô P.
Tại Kết luận định giá tài sản số 123/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận: 01 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có trọng lượng 4,6kg, trị giá 1.154.600 đồng; 01 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có trọng lượng 2,5kg, trị giá 627.500đồng; 01 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có trọng lượng 4kg, trị giá 1.004.000 đồng; 01 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có trọng lượng 3,28kg, trị giá 823.280 đồng; 01 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có trọng lượng 2,5kg, trị giá 627.500 đồng; 01 kg dây đồng 0,25mm có trị giá 251.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 4.487.880 đồng.
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSĐH ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Kim Sô P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Kim Sô P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại đối với kết luận định giá. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Kim Sô P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị:
Xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách vải màu đen, kích thước (25 x 30 x 5)cm; 01 ca nhựa màu đỏ, cao 25cm, đường kính 13cm.
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang tạm giữ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu về phần dân sự và anh Kim S1 sau khi nhận lại xe mô tô biển số 67H1-005.45 cũng không có yêu cầu về phần dân sự, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai và bị cáo ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của họ nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó, đủ cơ sở xác định: Vào các ngày 21/9/2024 và ngày 22/9/2024, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam), địa chỉ: Đường số C, Khu công nghiệp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Kim Sô P có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam) gồm 06 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có tổng trọng lượng là 17,88 kg, với tổng trị giá tài sản là 4.487.880 đồng. Do đó, có cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, hiện tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại chủ sở hữu, tại phiên tòa, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo vừa bị tai nạn lao động nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhận thấy, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Hiện bị cáo vừa bị tai nạn lao động 03 ngày, cụt đốt ngón 1, 2, 3 bàn tay phải nên không thể lao động để tạo ra thu nhập và xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với các tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 05 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có tổng trọng lượng là 16,88 kg, trong đó: 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 4,6kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 2,5kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 4kg, 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 3,28kg, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu theo biên bản trả tài sản ngày 11/01/2025 là phù hợp nên không xem xét.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh, số khung 125667, số máy 125667, biển số 67H1-005,54, là tài sản của anh Kim S1 (em ruột của Kim Sô P). Anh S1 cho bị cáo P mượn xe mô tô nêu trên đề sử dụng làm phương tiện đi lại và không biết việc P sử dụng xe mô tô đề thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho anh S1 theo biên bản trả tài sản ngày 11/01/2025 là phù hợp nên không xem xét.
- Đối với 01 kg dây đồng 0,25mm Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không thu hồi được nên không xem xét.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách vải màu đen, kích thước (25 x 30 x 5)cm; 01 ca nhựa màu đỏ, cao 25cm, đường kính 13cm (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang tạm giữ).
Về trách nhiệm dân sự: Bà Phan Thị Kiều L là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn K1 (Việt Nam) đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 05 cuộn dây đồng loại 0,25mm màu đỏ, có tổng trọng lượng là 16,88kg, không yêu cầu bồi thường đối với 01 kg dây đồng 0,25mm và không có yêu cầu gì khác về phần dân sự và anh Kim S1 sau khi nhận lại xe mô tô biển số 67H1-005.45 cũng không có yêu cầu về phần dân sự, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người thu mua phế liệu không xác định được nhân thân, lai lịch đã mua 01kg dây đồng từ P với giá 110.000 đồng, chỉ có lời khai của P nên không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Kim Sô P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Kim Sô P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách vải màu đen, kích thước (25 x 30 x 5)cm; 01 ca nhựa màu đỏ, cao 25cm, đường kính 13cm.
(Vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 77-12/02/2025 ngày 12 tháng 02 năm 2025).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Kim Sô P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án (những nội dung có liên quan đến mình) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Công an tỉnh Long An; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thúy Hồng |