vanban.org

Bản án 59/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H, về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” với bà Nguyễn Thị Kim O. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-12-2025
V/v “Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Phường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thăng

2. Bà Lương Thị Bảo Thùy

Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Trần Huỳnh Như Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 425/2025/TLST-HNGĐ ngày 14-11-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-12-2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1982; căn cước số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 07-02-2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: số G, ấp P, xã G (xã G 3 cũ), tỉnh Đồng Nai, (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1989; căn cước số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 07-02-2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Địa chỉ: ấp P, xã G (xã G 3 cũ), tỉnh Đồng Nai, (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày, tranh luận:

Ông H và bà O đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai). Tại Quyết định số 78/2024/QĐST-HNGĐ đã công nhận thỏa thuận của ông H, bà O về con như sau: giao các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng.

Qua theo dõi thời gian thực hiện việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con của bà O, ông H nhận thấy bản chất công việc của bà O tốn nhiều thời gian, dẫn đến thiếu sự quan tâm, chăm sóc đến đời sống tinh thần, tâm lý của các con. Từ tháng 3-2024, được sự đồng ý của bà O, ông H đã đón các con về nhà để trực tiếp nuôi dưỡng, từ đó cho đến nay các con được phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần, được tham gia học tập đầy đủ như bạn bè cùng trang lứa.

Nay để ổn định đời sống của các con, ông H yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016, từ bà O sang cho ông H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trường hợp được chấp nhận yêu cầu, ông H không yêu cầu bà O thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Do vừa đi làm, vừa phải chăm sóc các con, nên ông H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim O trình bày, tranh luận: Bà O thừa nhận, năm 2024 vợ chồng ly hôn và được Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai) chấp nhận theo Quyết định thuận tình ly hôn và được quyền nuôi dưỡng các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016. Thời gian sau đó, do áp lực trong công việc, thường xuyên phải vắng nhà, không thể mang các con theo cùng vì các con còn phải học tập, nên bà O buộc phải giao lại con cho ông H chăm sóc. Đến thời điểm hiện nay, về kinh tế bà O chưa ổn định, chưa thể sắp xếp lại thời gian để trông nom, chăm sóc các con, vì vậy bà O đồng ý giao lại các con cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, khi có điều kiện bà O sẽ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi các con sau. Do tính chất công việc bận rộn, nên bà O đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: (1) Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016 từ bà Nguyễn Thị Kim O sang cho ông Nguyễn Thanh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời bà O không phải cấp dưỡng nuôi con do ông H không yêu cầu.

(2) Về án phí: đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn bà O có nơi cư trú tại: ấp P, xã G (xã G 3 cũ), tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự có mặt của đương sự:

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về áp dụng pháp luật:

Tranh chấp xảy ra từ năm 2024, nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét về nội dung.

Về nội dung tranh chấp:

4.1. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai) đã quyết định như sau: giao các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng. Theo nguyên đơn, thì trong quá trình nuôi dưỡng các con, bà O bỏ bê, không chăm sóc các con; bị đơn bà O thừa nhận do tính chất công việc và áp lực kinh tế, nên dành ít thời gian để quan tâm, chăm sóc các con, từ tháng 4-2024 cho đến nay các con do ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Lời khai của nguyên đơn, được bị đơn thừa nhận, vì vậy đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Có căn cứ để xác định, mặc dù được giao quyền trực tiếp nuôi con, nhưng thực tế bà O không thực hiện quyền, giao lại con cho ông H nuôi dưỡng từ Tháng 4-2024 cho đến nay, ảnh hưởng đến quyền được sống, học tập, vui chơi của con trẻ. Các con đã bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành, có những biến chuyển lớn về sinh học, tâm sinh lý và cơ thể, cần có sự quan tâm sát sao, thường xuyên từ cha, mẹ. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là đảm bảo nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của con trẻ.

4.2. Về điều kiện nuôi con của ông H: ông H hiện có chỗ ở ổn định, có nghề nghiệp và thu nhập, có khả năng sắp xếp thời gian để quan tâm, chăm sóc các con.

4.3. Từ những căn cứ và lập luận nêu trên, việc ông H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của các con được ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 27). Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

4.5. Về cấp dưỡng nuôi con: ông H không yêu cầu bà O cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên được hoàn trả án phí; bị đơn bà O phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các điều 70, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H, về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” với bà Nguyễn Thị Kim O.

Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng các con Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 11-9-2013 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh năm 18-01-2016 từ bà Nguyễn Thị Kim O sang cho ông Nguyễn Thanh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời bà O không phải cấp dưỡng nuôi con do ông H không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được quyền cản trở; vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

2.1. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0007814 ngày 13-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

2.2. Buộc bà Nguyễn Thị Kim O phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ