vanban.org

Bản án 59/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Cà Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018 cho chị Quàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị H và Cà V Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Cà Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 09-5-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Vinh

2. Ông Phạm Ngọc Thiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng- Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Cà Văn Đ, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Bản S, x C, huyện TC, tỉnh Sơn La.

( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Quàng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 04/5/2018 tại Ủy ban nhân dân x Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2021 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đ sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Quàng Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Cà Văn Đ.

Về con chung: Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ có 01 (một) con chung là cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018.

Hiện tại cháu Cà Hoàng B đang ở với chị Quàng Thị H. Chị Quàng Thị H có nơi cư trú ổn định. Chị Quàng Thị H trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán thêm, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Chị Hồng có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Chị Quàng Thị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Cà Hoàng B.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị H không yêu cầu anh Cà Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị H cam đoan không có nợ chung.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Cà Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh Cà Văn Đ và chị Quàng Thị H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày ngày 04/5/2018 tại Ủy ban nhân dân x Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đ sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Cà Văn Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn chị Quàng Thị H.

Về con chung: Anh Cà Văn Đ và chị Quàng Thị H có 01 (một) con chung là cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018.

Hiện tại cháu Cà Hoàng B đang ở với chị Quàng Thị H.

Anh Cà Văn Đ nhất trí để chị Quàng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Cà Hoàng B.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Cà Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Cà Văn Đ cam đoan không có nợ chung.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Quàng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hồng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Cà Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Đoàn giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.

T i iên ản ác minh ngày 24/02/2025: Tại bản Song, x Chiềng La, huyện TC, tỉnh Sơn La. Chị Quàng Thị H, anh Cà Văn Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân x Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm được. Hiện tại chị Quàng Thị H, anh Cà Văn Đ đ sống ly thân. Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ có 01 (một) con chung là cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018 đang ở với chị Quàng Thị H. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đ thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đ thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đ thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Cà Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018 cho chị Quàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cà Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị H không yêu cầu).

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị H, anh Cà Văn Đ cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Cà Văn Đ có địa chỉ tại Bản S, x C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Quàng Thị H, bị đơn anh Cà Văn Đ: Nguyên đơn chị Quàng Thị H, bị đơn anh Cà Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 04/5/2018 tại Ủy ban nhân dân x Chiềng Sung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến năm 2021 có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ đ sống ly thân, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Hồng cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Cà Văn Đ. Anh Cà Văn Đ nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hồng và anh Đoàn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Cà Văn Đ. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ có 01 (một) con chung là cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018. Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ đều có ý kiến giao cháu Cà Hoàng B cho chị Quàng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Chị Hồng, anh Đoàn có nơi cư trú rõ ràng, đều có thu nhập. Chị Quàng Thị H trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Chị Hồng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Cà Hoàng B từ năm 2021 cho đến nay.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, cần giao cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018 cho chị Quàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Cà Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị H không yêu cầu cấp dưỡng).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Quàng Thị H, anh Cà Văn Đ cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn anh Cà Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Cà Hoàng B, sinh ngày 17/11/2018 cho chị Quàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Cà Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Quàng Thị H không yêu cầu cấp dưỡng).

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Quàng Thị H và anh Cà Văn Đ cam đoan không có nợ chung.

7. Về án phí: Chị Quàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đ nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002704, ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị H, anh Cà Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ