- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số: 59/2024/HS - ST Ngày 18 - 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Quang Khải
Bà: Lò Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Tăng Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H. Tên gọi khác: Không có. Sinh năm 1978
Tại: Bắc Giang
Nơi cư trú: Thôn K, xã Ph, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Sáu (đã chết) và con bà Đỗ Thị N: Vợ: Phạm Thị Q (đã ly hôn), có 02 người con: Con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án. Chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 30/10/2024 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 50 phút ngày 30/10/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Điện Biên làm nhiệm tại khu vực bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi áo ngực bên trái của Lê Văn H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng và mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ chứa các cục bột màu trắng nghi Heroine. Lê Văn H khai nguồn gốc số vật chứng thu được là do bị cáo mua của một người đàn ông bị cáo không biết tên và địa chỉ vào hồi 11 giờ cùng ngày tại khu vực bản Xôm xã Thanh An, huyện Điện Biên. Mục đích để sử dụng cho bản thân. Mua xong, Hùng cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 30/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số 1709/KL - KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lê Văn H 0,27 gam là chất ma tuý: Loại Heroine. Tại bản Cáo trạng số 254/CT-VKSHĐB ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,27 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,21 gam sau khi giám định); 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 giấy bạc màu vàng và 01 giấy trắng có dòng kẻ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 12 giờ 50 phút ngày 30/10/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Điện Biên đang làm nhiệm tại khu vực bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi áo ngực bên trái của Lê Văn H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng và mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ chứa các cục bột màu trắng nghi Heroine. Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo là Heroine có khối lượng 0,27 gam. Bị cáo khai mục đích cất giấu Heroine là để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Bắc Giang. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải. Bố đẻ bị cáo là ông Lê Văn S được Nhà nước tặng thưởng Huy Chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" và các tình tiết khác theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, tài sản không có nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng: Gồm 0,27 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,21 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 giấy bạc màu vàng và 01 giấy trắng có dòng kẻ không có giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông, bị cáo không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 30/10/2024).
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ 0,27 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,21 gam sau khi giám định); 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng; 01 mảnh giấy màu vàng và 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ.
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 26/11/2024.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/12/2024)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Bộ phận HSNV CA H.Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự H. Điện Biên; - Sở Tư pháp; - T.H.A HS; Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dương |