vanban.org

Bản án 59/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo V Minh T, Phạm Minh R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt b cáo V Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2023. Xử phạt b cáo Phạm Minh R 01 một) năm 6 sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VO MINH T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo V Minh T, Phạm Minh R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST
Ngày 20-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ph c Trinh;

Bà Phan Th Xuân H ng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng im An - Th ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối v i các b cáo:

V Minh T, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1993 tại C n Th ; n i th ờng trú: p A, xã B, huyện Đ, t nh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không; dân tộc: inh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông V Thành P và bà Hà Th I; có v và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010, b Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, t nh Long An xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 120/2010/HSST ngày 28/10/2010. Năm 2011, b Tòa án nhân dân t nh Long An xử phạt 01 năm tù, hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 3 tháng 05 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 162/2011/HSPT ngày 07/9/2011, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/6/2012. Năm 2013, b Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, t nh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 35/2013/HSST ngày 27/3/2013, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/4/2016; b bắt, tạm giam từ ngày 03/11/2023 cho đến nay; b cáo có mặt tại phiên tòa.

Phạm Minh R, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1996 tại t nh Trà Vinh; n i th ờng trú: hóm 2, th trấn Q, huyện S, t nh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: inh; gi i tính: Nam; tôn giáo: hông; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phạm Minh D và bà Tr n Th Tuyết E; có v và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: hông; b bắt, tạm giam từ ngày 03/11/2023 cho đến nay; b cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Tr ng Minh H, sinh năm 1989 có mặt).

Th ờng trú: p Y, xã X, huyện L, t nh Vĩnh Long.

Tạm trú: Số 43 đ ờng G, t 9, khu phố 8, th trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ c tóm tắt nh sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 22/10/2023, Phạm Minh R đến nhà V Minh T, cả hai rủ nhau đi qua Củ Chi tìm xe trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. T sử dụng xe máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen, biển số 70B1-632.78 chở R qua c u đến đ a phận Củ Chi đi qua các tuyến đ ờng thuộc xã N và th trấn C. hoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, T chở R đi đến tr c iot số 43 đ ờng G, khu phố 8, th trấn C, huyện C thì phát hiện có 01 xe máy Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 64D1-635.79 đang dựng bên phải iot, có gắn sẵn chìa khóa xe. Lúc này R ngồi trên xe Yamaha Mio đối diện cảnh gi i. T vào lấy xe máy Yamaha Sirius trên n máy xe chạy đi về cất giấu trong v ờn cây bên hông nhà T.

Tối ngày 22/10/2023, R ngh lại nhà T một lúc sau đó bắt xe buýt đi về thành phố Z. Đến sáng ngày 23/10/2023, T điều khiển xe Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 64D1-635.79 mang ra khu vực g n C u F trên đ ờng U thuộc ấp V, xã M, huyện Đ, t nh Long An) bán cho một ng ời phụ nữ không r thông tin, lai l ch, khoảng 50 tu i) đ c 5.500.000 đồng, chia cho mỗi ng ời 2.500.000 đồng, còn 500.000 đồng sử dụng ăn uống. Ngày 28/10/2023, T điều khiển xe máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen, gắn biển số 70B1-632.78 chở R từ nhà qua c u K đến đ a phận huyện Củ Chi tìm tài sản là xe gắn máy để trộm cắp, sau đó đi đ ờng bờ kênh ra đến Quốc lộ 22. hi đi đến tr c trụ sở y ban nhân dân xã O, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì b lực l ng công an tu n tra kiểm tra phát hiện và mời về làm việc. Qua điều tra, V Minh T và Phạm Minh R khai nhận hành vi phạm tội nh trên.

Tại ết luận đ nh giá tài sản số 234/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự y ban nhân dân huyện Củ Chi kết luận giá tr của 01 Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 64D1-635.79, số khung: RLCUE3740LY084034, số máy: E32VE297843 v i số tiền là 10.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 đôi dép màu đen bằng nhựa; 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen, biển số: 70B1-632.78; 01 áo nylon màu xanh đen dài tay có c , bên trong có ghi chữ HATOCO, sau l ng d i vai áo có 02 sọc ngang màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu đen có quai ngang sọc trắng đen; 01 tuýp lục giác mở khóa 08 mm hình chữ T có quấn băng keo đen; 02 đoản thép có 01 đ u lục giác loại 08 mm có 01 đ u mài dẹp có 02 cạnh sắc, mũi nhọn, dài 07 cm; 01 khối kim loại màu vàng đồng hình trụ có 04 cạnh vuông, kích th c 0,9 x 0,9 x 0,5 cm; 01 máy mài màu xanh.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSCC ngày 29 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố b can V Minh T, Phạm Minh R về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, b cáo V Minh T thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Ngày 22/10/2023, b cáo R đến nhà của b cáo tại xã B, huyện Đ, t nh Long An ch i. Sau đó b cáo cùng b cáo R bàn bạc cùng nhau đến huyện Củ Chi để tìm kiếm tài sản trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì cả hai đồng ý. B cáo điều khiển xe máy hiệu Yamaha Mio biển số 70B1-632.78 chở b cáo R từ huyện Đ, t nh Long An đến huyện Củ Chi. hi đi đến đ ờng G, khu phố 8, th trấn C thì phát hiện tr c iot có 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số 64D1-635.79 đang dựng tr c iot có cắm chìa khóa không ng ời trông giữ nên dừng xe lại. B cáo R ngồi trên xe làm nhiệm vụ cảnh gi i, b cáo lén lút lại xe máy biển số 64D1-635.79 mở công tắt n máy cùng b cáo R chạy thoát về nhà của b cáo. B cáo mang xe cất giấu bên hông nhà. B cáo R đón xe buýt về thành phố Z. Sáng ngày 23/10/2023, b cáo điều khiển xe máy biển số 64D1-635.79 đến khu vực c u F thuộc xã M, huyện Đ bán cho ng ời phụ nữ không r lai l ch v i giá 5.500.000 đồng. B cáo chia cho b cáo R 2.500.000 đồng, b cáo 2.500.000 đồng, còn lại 500.000 đồng dùng đi ăn uống. Đến ngày 28/10/2023, b cáo điều khiển xe máy biển số 70B1-632.78 chở b cáo R từ nhà đến huyện Củ Chi để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi b cáo đang điều khiển l u thông trên đ ờng Quốc lộ 22 đến g n trụ sở y ban nhân dân xã O, huyện C thì b lực l ng công an kiểm tra phát hiện trong xe của b cáo có cây đoản và tuýp dùng để mở khóa nên đ a về trụ sở công an làm việc. B cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà b cáo đã thực hiện cùng v i b cáo R vào ngày 22/10/2023. Công an thu giữ của b cáo 01 xe máy hiệu Yamaha Mio biển số 70B1-632.78, dụng cụ dùng để mở khóa xe, 01 đôi dép và 01 áo nylon. B cáo biết hành vi của b cáo là sai trái nên đã nhờ gia đình bồi th ờng thiệt hại cho b hại.

Tại phiên tòa, b cáo Phạm Minh R thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Ngày 22/10/2023 b cáo đến nhà b cáo T ch i, sau đó cả hai bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì cả hai đồng ý. B cáo T điều khiển xe máy của b cáo T chở b cáo đến huyện Củ Chi để tìm tài sản lấy trộm. hi đang đi trên đ ờng G, khu phố 8, th trấn C, huyện C thì phát hiện có 01 xe máy đang dựng tr c iot không ng ời trông giữ. B cáo T dừng xe lại. B cáo ngồi trên xe của b cáo T làm nhiệm vụ cảnh gi i còn b cáo T lén lút lại lấy xe máy rồi cả hai tẩu thoát, chạy về nhà b cáo T. B cáo ở nhà b cáo T ch i đến tối thì đón xe buýt về thành phố Z. Sau đó b cáo T nói v i b cáo bán xe máy lấy trộm đ c 5.500.000 đồng. B cáo T chia cho b cáo 2.500.000 đồng, b cáo T 2.500.000 đồng, còn lại 500.000 đồng b cáo cùng b cáo T đi ăn uống. Đến khoảng 16 giờ ngày 28/10/2023 b cáo T điều khiển xe máy biển số 70B1-632.78 chở b cáo đến huyện Củ Chi để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi b cáo T đang điều khiển l u thông trên đ ờng Quốc lộ 22 đến g n trụ sở y ban nhân dân xã O, huyện C thì b lực l ng công an kiểm tra phát hiện trong xe của b cáo T có cây đoản và tuýp dùng để mở khóa nên đ a về trụ sở công an làm việc. B cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà b cáo đã thực hiện cùng v i b cáo T vào ngày 22/10/2023. Công an thu giữ của b cáo 01 đôi dép. B cáo biết hành vi của b cáo là sai trái. B cáo đã nhờ gia đình bồi th ờng thiệt hại cho b hại.

Tại phiên tòa, b hại ông Tr ng Minh H khai nhận: hoảng 17 giờ 40 phút ngày 22/10/2023 ông dựng xe máy biển số 64D1-635.79 tr c nhà số 43 đ ờng G, khu phố 8, th trấn C, huyện C thì nghe tiếng xe n máy. Ông chạy ra xem thì phát hiện xe máy b mất. Ông dùng xe máy khác đu i theo nh ng không k p. Đến ngày 28/10/2023 ông nghe thông tin công an huyện Củ Chi thông báo có bắt đ c kẻ đã trộm tài sản ở th trấn C nên ông đến công an trình báo. Quá trình điều tra, xe máy của ông không thu hồi đ c. Ông đã đ c gia đình các b cáo bồi th ờng số tiền 10.000.000 đồng, ông không yêu c u gì thêm. Ông xin giảm nhẹ hình phạt cho các b cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các b cáo và đề ngh Hội đồng xét xử:

Áp dụng hoản 1 Điều 173, Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt b cáo Võ Minh T mức án từ 02 hai) năm tù đến 02 hai) năm 6 sáu) tháng tù.

Áp dụng hoản 1 Điều 173, Điểm b, i, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt b cáo Phạm Minh R mức án từ 01 (một) năm 6 sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng hoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề ngh :

T ch thu tiêu hủy 01 đôi dép màu đen bằng nhựa; biển số: 70B1-632.78; 01 áo nylon màu xanh đen dài tay có c , bên trong có ghi chữ HATOCO, sau l ng d i vai áo có 02 sọc ngang màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu đen có quai ngang sọc trắng đen; 01 tuýp lục giác mở khóa 08 mm hình chữ T có quấn băng keo đen; 02 đoản thép có 01 đ u lục giác loại 08 mm có 01 đ u mài dẹp có 02 cạnh sắc, mũi nhọn, dài 07 cm; 01 khối kim loại màu vàng đồng hình trụ có 04 cạnh vuông, kích th c 0,9 x 0,9 x 0,5 cm; 01 máy mài màu xanh.

T ch thu nộp ngân sách nhà n c 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen.

Về hình phạt b sung: B cáo không có việc làm n đ nh đề ngh Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền theo quy đ nh tại hoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

B cáo V Minh T không tranh luận, không tự bào chữa.

B cáo Phạm Minh R không tranh luận, không tự bào chữa.

B cáo V Minh T nói lời sau cùng: B cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để b cáo s m về v i gia đình.

B cáo Phạm Minh R nói lời sau cùng: B cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để b cáo s m về v i gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ng ời có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các b cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

B cáo V Minh T và b cáo Phạm Minh R có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Tr ng Minh H xe máy biển số 64D1-635.79 tr giá 10.000.000 đồng vào ngày 22/10/2023. Bằng hành vi nêu trên b cáo V Minh T và b cáo Phạm Minh R đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đ c quy đ nh tại hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các b cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì mục đích có tiền tiêu xài mà các b cáo đã l i dụng s hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi của các b cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của b hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh h ởng đến đời sống và sinh hoạt tại đ a ph ng. hi thực hiện hành vi phạm tội các b cáo nhận thức r việc các b cáo chiếm đoạt tài sản là sai trái, phạm pháp nh ng các b cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn động c t l i của cá nhân b cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy c n phải xử lý các b cáo bằng một hình phạt nghiêm và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian là c n thiết.

Trong vụ án này, b cáo R là ng ời rủ b cáo T. Tuy nhiên b cáo T là ng ời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, b cáo T có nhân thân xấu, các b cáo không có sự phân công cụ thể nên c n xử lý b cáo T mức án cao h n b cáo R là phù h p.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

hông có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại C quan điều tra cũng nh tại phiên tòa, các b cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các b cáo tự nguyện bồi th ờng thiệt hại, khắc phục hậu quả. B hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các b cáo. B cáo R phạm tội l n đ u và thuộc tr ờng h p ít nghiêm trọng, là con của th ng binh. Xét đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của các b cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối v i b cáo T ờng và áp dụng Điểm b, i, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối v i b cáo R để xem xét giảm nhẹ cho các b cáo ph n nào về hình phạt là có căn cứ.

Về hình phạt b sung:

Các b cáo không có việc làm n đ nh. Hội đồng xét xử xét không c n thiết áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối v i các b cáo theo quy đ nh tại Điều 32 và hoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án:

01 xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen (b cáo T m n của ng ời bạn tên Sang, không r đ a ch , xe không giấy tờ, số khung và số máy b mài mất số) c quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi đã có thông báo về việc tìm chủ sở hữu, b cáo T không có ý kiến, yêu c u gì. Hội đồng xét xử xét c n t ch thu nộp ngân sách nhà n c.

01 đôi dép màu đen bằng nhựa. Đây là tài sản của b cáo R không liên quan đến việc phạm tội, b cáo không yêu c u nhận lại, không có giá tr sử dụng, Hội đồng xét xử xét c n t ch thu tiêu hủy.

Biển số 70B1-632.78 là biển số của xe máy hiệu HONDA có số máy HC12E1670542, số khung RLHHC12089Y106210 do ông Đặng Văn L1 đứng tên đăng ký. Xe này hiện ông L1 đang quản lý sử dụng. Biển số 70B1-632.78 của xe máy hiệu Yamaha Mio là giả, không có giá tr sử dụng, Hội đồng xét xử xét c n t ch thu tiêu hủy.

01 áo nylon màu xanh đen dài tay có c , bên trong có ghi chữ HATOCO, sau l ng d i vai áo có 02 sọc ngang màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu đen có quai ngang sọc trắng đen. Đây là tài sản của b cáo T không liên quan đến việc phạm tội, b cáo không yêu c u nhận lại, không có giá tr sử dụng, Hội đồng xét xử xét c n t ch thu tiêu hủy.

01 tuýp lục giác mở khóa 08 mm hình chữ T có quấn băng keo đen; 02 đoản thép có 01 đ u lục giác loại 08 mm có 01 đ u mài dẹp có 02 cạnh sắc, mũi nhọn, dài 07 cm; 01 khối kim loại màu vàng đồng hình trụ có 04 cạnh vuông, kích th c 0,9 x 0,9 x 0,5 cm; 01 máy mài màu xanh. Đây là công cụ phạm tội, không có giá tr sử dụng, Hội đồng xét xử xét c n t ch thu tiêu hủy.

Về nghĩa vụ dân sự:

Ông Tr ng Minh H là ng ời b thiệt hại tài sản do hành vi phạm tội của các b cáo gây ra. Ông H đã đ c bồi th ờng số tiền 10.000.000 đồng nên không yêu c u thêm. Hội đồng xét xử không xét.

Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này có ng ời phụ nữ không r thông tin, lai l ch là ng ời đã mua tài sản do các b cáo phạm tội mà có, c quan cảnh sát điều tra tiếp tục làm r xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ ch u án phí:

Buộc b cáo V Minh T và Phạm Minh R phải ch u án phí hình sự s thẩm theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố b cáo V Minh T, Phạm Minh R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào hoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt b cáo V Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ vào hoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm b, i, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt b cáo Phạm Minh R 01 một) năm 6 sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ vào hoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

T ch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen bằng nhựa; biển số: 70B1-632.78; 01 áo nylon màu xanh đen dài tay có c , bên trong có ghi chữ HATOCO, sau l ng d i vai áo có 02 sọc ngang màu trắng; 01 đôi dép nhựa màu đen có quai ngang sọc trắng đen; 01 tuýp lục giác mở khóa 08 mm hình chữ T có quấn băng keo đen; 02 đoản thép có 01 đ u lục giác loại 08 mm có 01 đ u mài dẹp có 02 cạnh sắc, mũi nhọn, dài 07 cm; 01 khối kim loại màu vàng đồng hình trụ có 04 cạnh vuông, kích th c 0,9 x 0,9 x 0,5 cm; 01 máy mài màu xanh.

T ch thu nộp ngân sách nhà n c: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Mio, màu xanh đen.

Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí năm 2015, Điểm a hoản 1 Điều 23 của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội.

Án phí hình sự s thẩm 200.000 hai trăm nghìn) đồng buộc b cáo V Minh T phải ch u.

Án phí hình sự s thẩm 200.000 hai trăm nghìn) đồng buộc b cáo Phạm Minh R phải ch u.

B cáo, b hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Tr ờng h p bản án đ c thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ c thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ c thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ