- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt b cáo Lê Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2024/HS-PT Ngày: 24/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hà Ngân
Ông Bùi Minh Thư.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2024/TLPT-HS ngày 01/11/2024 đối với b cáo Lê Văn T, do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/3/1986 tại th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn S; Sinh năm 1962 và bà Lê Th Đ; Sinh năm 1964; Anh ch em ruột: Có 03 người, b cáo là con thứ nhất; Vợ: Phạm Th Tuyết N; Sinh năm 1987 và 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: B cáo b tạm giữ từ ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
Trong vụ án này còn có bị hại, người làm chứng nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T có mối quan hệ quen biết với Lê Danh Đ1, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Vào tối ngày 07/6/2024, Lê Văn T đến nhà anh Lê Danh H, sinh năm 1987, còn Lê Danh Đ1 đến nhà anh Lê Danh D, sinh năm 1986, đều ở tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh để tham gia ăn uống. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong, Lê Văn T và anh Lê Danh H lấy loa kéo ra sân, ngõ nhà anh H để hát Karaoke. Cùng lúc này, Lê Danh Đ1 chở anh Lê Danh D đến nhà anh Lê Danh H chơi.
Do trước đó mấy ngày, giữa Lê Văn T và Lê Danh Đ1 có mâu thuẫn, xích mích, nên khi thấy Đ1 đi vào, T và Đ1 đã xảy ra cãi vã, thách thức nhau. Lúc này, Lê Văn T đứng dậy, đi lại dùng tay trái cầm vào cổ Lê Danh Đ1 nói “Mi dừ thích chi?”, rồi cả hai bắt đầu xô đẩy nhau. Quá trình xô xát, Lê Danh Đ1 lấy một chiếc chổi đót của gia đình anh Lê Danh H để ở sân, đánh phần cán chổi vào người Lê Văn T thì T giơ tay đỡ và lùi về sau. Tiếp đó, T thấy có một chiếc cưa cầm tay, màu đỏ, có lưỡi bằng kim loại đang đặt ở trên thành sân nên đã dùng tay phải cầm ở cán cưa rồi quay lại phía Đ1, đánh một phát theo chiều từ phải qua trái, từ dưới lên trên (tạt ngang) vào người Đàm, Đ1 giơ tay trái lên đỡ thì lưỡi cưa trúng vào tay trái và phần đầu bên trái của Đ1, làm cưa rơi xuống nền sân và làm rơi chiếc chổi trên tay Đ1. Sau đó, Lê Danh Đ1 chạy vào trong sân nhà lấy 01 chiếc kéo và 01 con dao rạ đều bằng kim loại, để tại bàn uống nước ở sân nhưng được anh Lê Danh H và những người khác can ngăn, cản lại. Lúc này, Lê Danh Đ1 và Lê Văn T tiếp tục chửi bới, thách thức nhau. Lê Danh Đ1 dùng điện thoại gọi cho anh Võ Văn G, sinh năm 1994, trú cùng thôn, thông báo về việc b Lê Văn T đánh chảy máu. Sau đó, được mọi người khuyên ngăn nên T đi về nhà; còn Đ1 được ch Nguyễn Th H1, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đưa đi trạm xá để khâu vết thương. Tuy nhiên, khi trên đường đi đến trạm xá, do tức giận, bức xúc việc Lê Văn T đánh mình b thương, chảy máu nên Lê Danh Đ1 xuống xe, rồi một mình điều khiển xe mô tô đi về phía nhà Trường để nói chuyện.
Sau khi nhận cuộc gọi của Lê Danh Đ1, anh Võ Văn G cùng anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1997 và anh Lê Văn T1, sinh năm 1995, đều trú tại tổ dân phố A, th trấn T, huyện T cùng đi lại nhà anh Lê Danh H để xem tình hình như thế nào nhưng không gặp ai nên đi đến nhà Lê Văn T.
Lê Văn T sau khi về nhà thì suy nghĩ Lê Danh Đ1 sẽ đến nhà Trường để tiếp tục đánh nhau nên T đã lấy một thanh kim loại hình hộp chữ nhật (là thanh dùng để làm mái che ở nhà Trường), cầm ra để phía trước cổng nhà Trường để phòng thân nếu Đàm quay lại. Khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, Lê Danh Đ1 điều khiển xe mô tô một mình đi qua và thấy Lê Văn T đang đứng trước cổng nhà, Đ1 đi đến khu vực ngã ba (cách cổng nhà Trường khoảng 15-20 mét) thì dừng lại, xuống xe rồi nhặt 01 chiếc gậy bằng tre ở trên đường, cầm và chạy bộ lại phía T đang đứng. Lúc này, cả hai cách nhau khoảng hơn 01 mét, Lê Danh Đ1 đứng ở mặt đường, Lê Văn T đứng phía trên cổng nhà (cổng nhà dốc nên v trí đứng của T cao hơn), Đ1 nói “Răng anh đập tui chảy máu?” thì T nói “Tại răng mi chửi tau, tau không liên quan chi cả”. Do thấy ồn ào nên ch Phạm Th Tuyết N, sinh năm 1987 (là vợ của T) đi ra đứng trước cổng nhà. Thấy ch N, Lê Văn T xoay người lại nói “Em bầu bì vô trong nhà đi” thì Lê Danh Đ1 dùng gậy tre đánh một phát từ sau ra trước trúng vào vai T, Trường quay lại nói “cha mi, răng mi đập tau?”, đồng thời, nhặt lấy thanh kim loại để trước đó, dùng tay phải đánh một phát từ phải qua trái, từ trên xuống dưới vào phía bên trái người của Lê Danh Đ1 thì Đ1 giơ tay trái đỡ nên trúng vào cẳng tay trái của Đ1, làm gãy cẳng tay trái. Tiếp đó, Lê Danh Đàm Đ2 tiếp tục sử dụng gậy tre đánh Lê Văn T nhưng b T dùng tay trái giữ gậy, đồng thời T tiếp tục dùng tay phải cầm thanh sắt đánh một phát từ phải qua trái, từ trên xuống dưới trúng vào đầu bên trái của Đ1, làm Đàm bất tỉnh, ngã xuống mặt đường. Thấy Lê Danh Đ1 ngã bất tỉnh, Lê Văn T hoảng sợ gọi người đưa Đ1 đi cấp cứu.
Cùng lúc này, anh Võ Văn G, anh Nguyễn Hữu L và anh Lê Văn T1 đi đến, thấy Đàm ngã bất tỉnh nên anh G đỡ dậy kiểm tra thì thấy chảy máu ở tai trái. Sau đó, Đ1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, kết luận b vỡ xương sọ vùng chẩm trái, gãy xương ở cẳng tay trái. Còn Lê Văn T b thương, thâm tím da ở vùng bả vai bên trái.
Ngày 08/06/2024, ch Lê Th A, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (mẹ của Lê Danh Đ1) trình báo Công an th trấn T về vụ việc trên. Cùng ngày, Lê Văn T đến Công an th trấn T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho Lê Danh Đ1. Công an th trấn T đã xác minh, xác đ nh nơi xảy ra sự việc, thu giữ tại hiện trường ở ngõ nhà Lê Văn T 01 mẫu chất màu nâu đã khô, đồng thời thu giữ các vật chứng, chuyển vụ việc đến CQCSĐT Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
* Bản kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Lê Danh Đ1 số 174/KLGĐ ngày 17/06/2024 của Trung tâm P, kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy đ nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đ nh pháp y, xác đ nh tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Lê Danh Đ1 tại thời điểm giám đ nh:
+ Vỡ xương sọ vùng chẩm trái: Tỉ lệ tổn thương cơ thể (TTCT) 09%.
+ Vết thương thái dương đỉnh trái kích thước nhỏ. Tỉ lệ TTCT 01%.
+ Gãy thân xương trụ trái hiện đang cố đ nh bột: Tỉ lệ TTCT 09%.
+ Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái kích thước nhỏ: Tỉ lệ TTCT 01%.
Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư, xác đ nh Tỉ lệ TTCT là: 19%.
Kết luận khác: Vết thương thái dương đỉnh trái do vật sắc; vỡ xương sọ vùng chẩm và gãy 1/3 giữa xương trụ trái do vật tày tác động vào gây nên.
* Bản kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Lê Văn T số 175/KLGĐ ngày 17/06/2024 của Trung tâm P, kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy đ nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đ nh pháp y, xác đ nh tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Lê Văn T tại thời điểm giám đ nh:
+ Đám thâm tím da vùng bả vai bên trái kích thước (10 x 6) cm, xác đ nh tỉ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể là: 01%.
+ Kết luận khác: Thương tích do vật tày tác động trực tiếp vào gây nên.
* Bản kết luận giám định dấu vết sinh học số 833/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- Dấu vết chất màu nâu thu giữ do Công an th trấn T, huyện T thu thập trong quá trình kiểm tra, xác đ nh vụ việc (ký hiệu A1) là máu người, thuộc nhóm máu O trong hệ thống nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu anh Lê Danh Đ1, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, Hà Tĩnh (ký hiệu M1) gửi tới giám đ nh.
- Trên chiếc cưa tay bằng kim loại, có khung được sơn màu đỏ, dài 45cm, rộng 10,5cm, đã qua sử dụng, đã b tét rỉ (ký hiệu A2) gửi tới giám đ nh không phát hiện dấu vết máu người.
Vật chứng của vụ án gồm: Vật chứng, tài liệu thu giữ: Quá trình điều tra, CQCSĐT Công an huyện T đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 (một) con dao rạ (có cán và lưỡi bằng kim loại), chiều dài 45 cm, rộng nhất 5,5 cm, đã qua sử dụng, đã b tét rỉ; 01 (một) chiếc kéo (có cán và lưỡi bằng kim loại), màu bạc, dài 23 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chổi bằng cỏ lau (có thân làm bằng thân cây cỏ lau), màu vàng, chiều dài 88 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc cưa tay (có cán và lưỡi làm bằng kim loại), có khung được sơn màu đỏ, chiều dài 45 cm, rộng 10,5 cm, đã qua sử dụng, b tét rỉ; 01 (một) thanh kim loại hình hộp chữ nhật, màu bạc, lõi bên trong rỗng, chiều dài 57,5 cm, rộng 5cm, cao 2,5 cm, dày 1,4 mm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc gậy tre, màu nâu, có các mắt tre và một đầu có cồi tre, chiều dài 145 cm, đường kính ở cồi tre 5.5 cm, đã khô.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ và trích xuất 01 chiếc đĩa DVD chứa một đoạn video hình ảnh thu giữ từ sân nhà của b can Lê Văn T, ghi nhận diễn biến của vụ việc. Hiện đĩa DVD được niêm phong trong phong bì thư và chuyển theo hồ sơ vụ án. Ngày 26/6/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên CQCSĐT Công an huyện T đã trả lại 01 con dao rạ, 01 chiếc chổi bằng cỏ lau, 01 chiếc kéo có đặc điểm nói trên cho chủ sở hữu là anh Lê Danh H. Các vật chứng còn lại đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà quản lý theo quy đ nh.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn T đã tự nguyện bồi thường cho Lê Danh Đ1 số tiền 52.000.000 đồng theo thỏa thuận, gồm chi phí điều tr , tổn thất tinh thần, thuốc men và các chi phí khác. Lê Danh Đ1 cũng đã tự nguyện bồi thường cho Lê Văn T số tiền 1.000.000 đồng về vết thương mà Đ1 gây ra. Cả hai đều đã nhận số tiền trên, cam đoan không có khiếu kiện, khiếu nại gì khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết đ nh:
- Về tội danh: Tuyên bố b cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, xử phạt b cáo Lê Văn T 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ từ ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, t ch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc cưa tay (có cán và lưỡi làm bằng kim loại), có khung được sơn màu đỏ, chiều dài 45 cm, rộng 10,5 cm, đã qua sử dụng, b tét rỉ; 01 (một) thanh kim loại hình hộp chữ nhật, màu bạc, lõi bên trong rỗng, chiều dài 57,5 cm, rộng 5cm, cao 2,5 cm, dày 1,4 mm, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc gậy tre, màu nâu, có các mắt tre và một đầu có cồi tre, chiều dài 145 cm, đường kính ở cồi tre 5.5 cm, đã khô.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh pháp luật.
Ngày 02/10/2024, b cáo Lê Văn T làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản án sơ thẩm và bổ sung nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của b cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho b cáo, xem xét kháng cáo của b cáo đã đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Kháng cáo của b cáo trong hạn luật đ nh nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của b cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại nhà anh Lê Danh H, sinh năm 1987, ở tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn cá nhân nên Lê Văn T đã có hành vi dùng cưa tay bằng kim loại đánh gây thương tích vùng thái dương đỉnh trái của anh Lê Danh Đ1, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 22 giờ 05 phút, tại khu vực ngõ N ở tổ dân phố A, th trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, T tiếp tục dùng thanh kim loại đánh gây vỡ xương sọ vùng chẩm trái, gãy thân xương trụ trái (tay trái) của Lê Danh Đ1. Còn Lê Danh Đ1 dùng gậy tre đánh vào vùng bả vai trái Lê Văn T. Theo kết luận giám đ nh thương tích của Trung tâm P, Lê Danh Đ1 b tổn thương cơ thể tỉ lệ 19%; Lê Văn T b tổn thương cơ thể tỉ lệ 1%. B cáo Lê Văn T dùng thanh kim loại đánh Lê Danh Đ1 là “dùng hung khí nguy hiểm”. Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử b cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của b cáo Lê Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại đ a phương nên cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tại cấp sơ thẩm, b cáo Lê Văn T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; b cáo đầu thú, b hại đề ngh giảm nhẹ hình phạt cho b cáo quy đ nh tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, b hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho b cáo. Xét thấy, b cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho b hại nên cấp sơ thẩm xử phạt b cáo mức án 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, dó đó chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo, giảm hình phạt cho b cáo.
Về án phí: B cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo Lê Văn T. Sửa bản án sơ thẩm số 55/2024/HSST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, tuyên bố b cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt b cáo Lê Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b cáo thi hành án, nhưng được trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ từ ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí của Tòa án, b cáo Lê Văn T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; - B cáo; - Lưu hồ sơ, VT, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Năng |