- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Diễm K - Kiều Phước V"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC H TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày 03 - 7 - 2024 “Về việc xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC H, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tâm
Ông Hà Bảo Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Ngọc H, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc H tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Tấn Đạt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Ngọc H xét xử sơ thẩm công khai phiên tòa trực tuyến vụ án thụ lý số: 22/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024. Về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Diễm K, Sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp Cồn Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh K Phước V, Sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Cồn Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 05/02/2024 và các lời khai của nguyên đơn chị Trần Diễm K trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh K Phước V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau vào ngày 17/3/2009, hôn nhân giữa tôi và anh V là tự nguyện.
Nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn là do: Vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên hay cải nhau, hai người tính tình không phù hợp, sống với nhau không cảm thấy hạnh phúc, gia đình có hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân không thể duy trì bền lâu được nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh K Phước V.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên K Phước Vũ Nguyên, sinh ngày 17/02/2009 và K Phước Nhựt Phi, sinh ngày 14/12/2014. Hiện nay con đang sống với chị K, sau khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh K Phước V, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh V biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 05/02/2024 nhưng anh V không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ anh V để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh V không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị K. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh V theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc H phát biểu tại tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc H.
- Về nội dung căn cứ: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận cho chị Trần Diễm K được ly hôn với anh K Phước V.
Giao cho chị Trần Diễm K được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các K Phước Vũ Nguyên, sinh ngày 17/02/2009 và K Phước Nhựt Phi, sinh ngày 14/12/2014. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh K Phước V có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc H theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của chị Trần Diễm K khởi kiện xin ly hôn với anh K Phước V nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh V kết hôn hôn vào ngày 17/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đối với anh V, Tòa án đã triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt không lý do, đồng thời anh V cũng không có văn bản về ý kiến của mình gửi đến Tòa án chứng tỏ anh V đồng ý với yêu cầu của chị K. Hội đồng xét xử xét thấy, chị K và anh V đã ly thân từ năm 2023 đến nay thời gian không dài nhưng anh V không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị K được ly hôn với anh V là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên K Phước Vũ Nguyên, sinh ngày 17/02/2009 và K Phước Nhựt Phi, sinh ngày 14/12/2014. Hiện nay con đang sống với chị K, sau khi ly hôn chị K yêu cầu tiếp tục nuôi con, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho các cháu Nguyên và cháu Phi thì chị K có đủ điều kiện. Xét thấy, các cháu Nguyên và cháu Phi đã sống chung với chị K từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần đồng thời phù hợp với đơn trình bày ngày 19/02/2024 thì các cháu Nguyên và cháu Phi có nguyện vọng muốn được ở với chị K. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho chị K nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với anh V vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị K và anh V không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị K trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh V không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì chị K và anh V có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.
Về nợ chung: Chị K trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh V không ý kiến gì nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Diễm K được ly hôn với anh K Phước V.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Diễm K được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu K Phước Vũ Nguyên, sinh ngày 17/02/2009 và K Phước Nhựt Phi, sinh ngày 14/12/2014. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh K Phước V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chị K có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0014870 ngày 05/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc H được chuyển thu.
Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Ngọc H; - THADS huyện Ngọc H; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |