vanban.org

Bản án 59/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Me D đối với anh Nguyễn Văn T . Cho chị Vũ Thị Me D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2/ Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 25/9/2021. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc A cho chị Vũ Thị Me D được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Me D - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Me D đối với anh Nguyễn Văn T . Cho chị Vũ Thị Me D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B V
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/02/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B V, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Kế ; Bà Phùng Thị Chiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện B V, thành phố Hà Nội

- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân huyện B V tham gia phiên toà: Bà Cấn Thùy Dung- Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/02/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B V, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Me D , sinh năm 2000 Địa chỉ: Thôn S 2, xã Ph Kh, huyện H H, Tỉnh Th B HKTT: Thôn B L, xã T P, huyện B V, TP Hà Nội

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T , sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn B L, xã T P, huyện B V, thành phố Hà Nội

( Chị D và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 19/01/2024 Vũ Thị Me D trình bày: Chị D có kết hôn hợp pháp với anh Nguyễn Văn T tại Ủy ban nhân dân xã T P ngày 05/7/2021 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T lừa dối gia đình về chuyện nợ nần. Chị D và gia đình cũng đã nhiều lần hỗ trợ để trang trải nợ nần cho anh T, nhưng anh không có ý thức làm để trả nợ, mà vẫn tiếp tục lừa dối gia đình. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân được khoảng một năm nay, chị D vừa mới biết anh T bị Tòa án xét xử 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị D thừa nhận vợ chồng cã 01 con chung lµ: cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 25/9/2021. Hiện cháu An đang ở với chị D. Quan điểm của chị D xin được tiếp tục nuôi cháu A vì cháu hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng: Không yêu cầu giải quyết

- Về công nợ chung: Không có

Tại bản tự khai ngày 24/01/2024 anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh T và chị Vũ Thị Me D kết hôn với nhau trên cơ sở có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T P ngày 05/7/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại thôn B L, xã T P. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian khoảng 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do một số hiểu nhầm, dẫn đến cả hai không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng được hơn một năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không , nhưng việc chị D xin ly hôn hiện nay anh T chưa đồng ý; nếu chị D cương quyết xin ly hôn thì anh đồng ý.

- Về con chung: Anh T thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 25/9/2021. Hiện cháu A đang ở với chị D. Quan điểm về con chung: Anh T đồng ý để chị D tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung.

Tòa án nhân dân huyện B V, thành phố Hà Nội đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên anh T xin vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được .

Quan điểm của Đại Diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B V tại phiên tòa: Việc thụ lý và giải quyết, thu thập chứng cứ trong vụ án ly hôn của Tòa án là đúng theo các quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Vũ Thị Me D khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú: Khu 8, Thôn B L, xã T P, huyện B V, thành phố Hà Nội, việc Tòa án nhân dân huyện B V thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị D và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị Me D và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 05/7/2021 tại UBND xã T P, huyện B V, thành phố Hà Nội, trên cơ sở có tự nguyện tìm hiểu. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T thấy rằng: Trong thời gian chung sống giữa chị D và anh T có mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng được hơn một năm nay. Anh T và chị D đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Tuy nhiên, anh T không muốn vợ chồng ly hôn, nếu chị D cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Xét nguyện vọng xin ly hôn của chị D là chính đáng, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D , cho chị D được ly hôn anh T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: Chị D và anh T đều xác định có 01 con chung là: cháu Nguyễn Phúc An, sinh ngày 25/9/2021. HĐXX xét thấy, trên cơ sở nguyện vọng của chị D, cũng như hiện cháu An còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, anh T nhất trí để chị D tiếp tục nuôi cháu An là phù hợp nên giao cháu Nguyễn Phúc An cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D và anh T không đặt ra nên HĐXX xem xét tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đến khi chị D có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác là phù hợp quy định pháp luật.

Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng : Chị D không yêu cầu giải quyết; anh T xác định không có nên HĐXX không giải quyết.

Về án phí: Chị D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Me D đối với anh Nguyễn Văn T . Cho chị Vũ Thị Me D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2/ Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 25/9/2021.

Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Nguyễn Phúc A cho chị Vũ Thị Me D được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đến khi chị D có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng: Không yêu cầu giải quyết

4/ Công nợ chung: Không có

5/ Về án phí: Chị Vũ Thị Me D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B V theo biên lai số 0013927 ngày 19/01/2024

6/ Quyền kháng cáo: Chị D và anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện B V

- UBND xã T P

- Người tham gia tố tụng

- THA dân sự

- Lưu hồ sơ

Vũ Thị Phƣơng Lan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện B V

- UBND xã T P

- Người tham gia tố tụng

- THA dân sự

- Lưu hồ sơ

Vũ Thị Phƣơng Lan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ