vanban.org

Bản án 59/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội là đã chết ngày 02 tháng 01 năm 2001. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố chết đối với bà Nguyễn Thị thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đông A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
_____________________
Số: 59/2023/QĐDS-ST
Ngày: 30/03/2023
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người
là đã chết.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đông A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:

Bà Đỗ Thị Vân.

Thư ký phiên họp:

Bà Ngô Thị Thu Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Dung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông A, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 145/2022/TLST-VDS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2023/QĐPH-VDS ngày 20 tháng 03 năm 2023.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H (Tên gọi khác: Nguyễn Thị Thu H), sinh ngày 01/10/1984. Hộ khẩu thường trú: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.

Có mặt: bà H.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đông A nhận định:

Tại đơn yêu cầu đề ngày 06/09/2022 và các bản tự khai tiếp theo, người yêu cầu, bà Nguyễn Thị H trình bày:

Mẹ đẻ bà là Nguyễn Thị N, sinh năm 1958, chết ngày 01/5/2011. Mẹ bà không kết hôn với ai nhưng sinh được 02 người con là: Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981 và Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/10/1984. Từ khi sinh ra thì 02 chị em bà ở trực tiếp với mẹ là Nguyễn Thị N tại Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.

Bà không biết lý do tại sao năm 1995, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích. bà H1 khi bỏ đi còn nhỏ, chưa thành niên, trí tuệ và sức khỏe phát triển bình thường. Bà không biết bà H1 ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà H1. Như vậy, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã biệt tích gần 28 năm, hiện không biết ở đâu.

Nay, để thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình phát sinh trong đời sống, bà đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết và xác định ngày chết của bà H1 là ngày 02/01/2001.

bà H phải chịu tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe người yêu cầu trình bày, xem xét tài liệu, chứng cứ và ý kiến đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A tại phiên họp.

XÉT THẤY

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958, chết ngày 01/5/2011. Bà Nguyễn Thị N không có chồng, sinh được 02 người con là: Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981 và Nguyễn Thị H, sinh ngày 01/10/1984.

Bà Nguyễn Thị Thu H1 đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1995. bà H1 khi bỏ đi còn nhỏ, chưa thành niên. Gia đình bà H không biết bà H1 ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình bà H đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà H1.

Ngày 22/11/2022, Công an xã Vân N có văn bản xác nhận bà Nguyễn Thị Thu H1 không có mặt tại địa phương khoảng từ năm 1995 đến năm 1996, nhưng vẫn có hộ khẩu tại Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội, không rõ có xin tạm vắng tại địa phương hay không do khi đó Công an xã bán chuyên trách quản lý và Công an xã hiện nay không được nhận lại các giấy tờ do Công an xã cũ bàn giao.

Sau khi thụ lý việc dân sự, ngày 01/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông A đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, quyết định này đã được đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng và thời hạn nhắn tin đã được hơn 04 tháng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, sau gần 28 năm liền kể từ ngày bà H1 bỏ đi mà vẫn không có tin tức xác thực là bà H1 còn sống. Điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định: Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Vì vậy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị H đề nghị tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết có căn cứ nên được chấp nhận.

Về ngày chết của bà Nguyễn Thị Thu H1 được xác định như sau: Tài liệu chứng cứ thu thập được không xác định được ngày, tháng, mà chỉ xác định bà H1 bỏ đi biệt tích năm 1995. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự thì ngày chết được xác định như sau: Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy, thời hạn có tin tức cuối cùng của bà H1 được tính từ ngày 01/01/1996. Do đó, ngày chết của bà Nguyễn Thị Thu H1 là ngày 02/01/2001.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phù hợp pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp tiền lệ phí theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 27, các Điều 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1 là đã chết.

- Tuyên bố bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội là đã chết ngày 02 tháng 01 năm 2001.

- Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 01/11/1981, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, thôn Thố B, xã Vân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội được giải quyết như đối với người đã chết.

- Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2020/0046949 ngày 22/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông A. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền lệ phí.

Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định hợp lệ tại địa phương nơi cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ