vanban.org

Bản án 59/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 22/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Vũ Duy Kh phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 168, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Duy Kh: 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”; Trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Duy Kh - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vũ Duy Kh phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 155 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HSST
Ngày 22-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXX-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023, đối với các bị cáo:

Vũ Duy Kh, sinh năm 1991 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 1172/13/9 đường A, phường B, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Vũ Văn Th, sinh năm 1966; Mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt ngày 09/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Hẻm 808 đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Duy Kh có quan hệ tình cảm với chị Trần Thị Cẩm T (sinh năm 1992; Nơi ở hiện tại: Hẻm 808 đường A, phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Sau khi chia tay với Kh, chị T đã quen bạn trai mới là anh Nguyễn Ngọc L (Sinh năm 1985; Nơi thường trú: TT. A, huyện B, Bình Định; Nơi ở hiện tại: 221/7 đường C, phường Đ, TP Vũng Tàu) nên Kh đã ghen tuông. Kh đã chuẩn bị tông đơ cắt tóc để giải quyết mâu thuẫn tình cảm với chị T. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 07/09/2022, Kh gọi điện rủ chị T ra quán ốc, địa chỉ 768 đường A, Phường B, thành phố Vũng Tàu nhậu. Sau đó cả hai cùng nhau đến phòng 102 nhà nghỉ M, địa chỉ 944/5 đường A, phường B TP. Vũng Tàu quan hệ tình dục với nhau. Trong lúc quan hệ tình dục, Kh tự ý sử dụng điện thoại chụp ảnh chị T trong tình trạng không mặc quần áo. Do nghĩ đến việc T có quan hệ tình cảm với Lâm nên Kh dùng băng keo mang theo trói tay chân của chị T. Sau khi bị Kh trói chân thì chị T tỉnh dậy và hỏi Kh vì sao làm vậy? Lúc này, Kh tháo vòng (lắc) vàng ở tay chị T rồi dùng tay tát vào mặt, dùng băng keo bịt miệng chị T và tháo dây chuyền vàng ở cổ chị T để trên bàn. Kh lấy trong Túi 01 (một) tông đơ cắt tóc chuẩn bị từ trước, ngồi lên người T, dùng tay đè đầu chị T xuống, chị T vùng vẫy thì bị Kh tát vào mặt. Kh kéo băng keo ở miệng chị T để hở một chút cho chị T nói chuyện. Kh hỏi T về cuộc sống đời tư và các mối quan hệ tình cảm của T với người đàn ông khác, chị T không trả lời nên Kh dùng tông đơ đánh 01 (một) nhát vào bên trái vùng đầu chị T gây thương tích. Kh tiếp tục hỏi chị T, chị T trả lời sai thì Kh lấy tông đơ cắt tóc chị T, chị T trả lời đúng thì Kh tự cắt tóc mình. Sau đó vì mệt quá nên chị T ngủ thiếp đi. Khoảng 01 giờ ngày 08/9/2022, Kh gửi 01(một) video quay tin nhắn zalo và 03 (ba) tấm ảnh chị T không mặc quần áo đang quan hệ tình dục với Kh rồi dùng điện thoại của T, tài khoản zalo “T Trần” của T gửi tin nhắn qua ứng dụng zalo cho tài khoản zalo “Ngọc L” của anh Nguyễn Ngọc L và dùng 01 (một) tấm ảnh chụp T đang không mặc quần áo và quan hệ tình dục với Kh lên ảnh đại diện và ảnh bìa trong tài khoản facebook của T ở trạng thái công khai và tài khoản zalo của T bằng điện thoại di động của T với mục đích để mọi người bạn của T đều thấy. Khoảng 11 giờ ngày 08/9/2022, Kh cởi trói cho chị T, dọn đồ để về và bỏ dây chuyền vàng, lắc vàng vào ba lô đồng thời nói với chị T về việc Kh lấy dây chuyền, vòng vàng của chị T để trừ nợ do trước đây có hùn làm ăn chung chị T, hiện chị T còn thiếu tiền Kh.Tuy nhiên, chị T không đồng ý vì đó là vàng của mẹ chị T cho, nhưng Kh nói trả lại số tiền đã thiếu thì Kh sẽ trả lại vàng, nếu không trả tiền sẽ bán hoặc mang đi cầm số vàng nói trên để trừ vào số tiền Kh đưa chị T mượn để làm ăn chung. Đến khoảng 17 giờ 30 ngày 08/9/2022, Kh và T trả phòng ra về. Sau khi được Kh thả cho về, chị T đã đến cơ quan Công an trình báo vụ việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Kh về hành vi làm nhục người khác và chiếm đoạt tài sản của chị T.

Bản kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐG-TTHS ngày 03/10/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 (một) dây chuyền vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng 2,2 chỉ: có giá 8.091.380đ (tám triệu, không trăm chín mươi mốt ngàn, ba trăm tám mươi đồng); 01 (một) vòng lắc vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng là 2,4 chỉ: có giá 8.826.960 đ (tám triệu, tám trăm hai mươi sáu ngàn, chím trăm sáu mươi đồng). Tổng cộng là: 16.918.340 đồng (mười sáu triệu, chín trăm mười tám ngàn, ba trăm bốn mươi đồng).

Tại Cơ quan điều tra Vũ Duy Kh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT thu giữ vật chứng và tài sản gồm:

- 01 (một) dây chuyền vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng 2,2 chỉ; 01 (một) vòng lắc vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng là 2,4 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại cho chị T;

- 01 (một) tông đơ cắt tóc không dây màu đen bạc, trên thân có in chữ SURKER màu trắng, có lưỡi cắt bằng kim loại màu trắng có dính một số sợi tóc; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 10+ mặt lưng màu bạc, số IMEI 1: 35859210595503; số IMEI 2: 358592105095552, Số seri R3CM902V5CW, bên trong có 02 (hai) sim số 0353076576 và 0457917212; 01 (một) Ti nylong màu đen bên trong có chứa nhiều sợi tóc màu đen được vo thành 01 cục; 01 (một) cuộn băng keo màu trắng bạc đã sử dụng; Nhiều đoạn băng keo màu trắng bạc được vò thành cục có dính nhiều sợi tóc màu đen; 01 (một) vỏ bọc cao su màu xám nhãn hiệu EROSS đã bị xé; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 72C2-155.33, Số khung 2604JY005028, số máy: KC26E1251091, đã qua sử dụng.

Tất cả vật chứng và tài sản trên hiện chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

- 01 (một) đĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh Kh, T ra vào nhà nghỉ vào ngày 07/9/2022 và ngày 08/9/2022. Hiện lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 14-02-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Vũ Duy Kh về tội “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 và tội “Làm nhục người khác” theo điểm e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác” đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 168, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Căn cứ điểm e Khoản 2 Điều 155; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Làm nhục người khác”. Đề nghị tổng hợp hình phạt hai tội đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tông đơ cắt tóc không dây màu đen bạc, trên thân có in chữ SURKER màu trắng, có lưỡi cắt bằng kim loại màu trắng có dính một số sợi tóc; 01 (một) túi nylong màu đen bên trong có chứa nhiều sợi tóc màu đen được vo thành 01 cục; 01 (một) cuộn băng keo màu trắng bạc đã sử dụng; Nhiều đoạn băng keo màu trắng bạc được vò thành cục có dính nhiều sợi tóc màu đen; 01 (một) vỏ bọc cao su màu xám nhãn hiệu EROSS đã bị xé; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 10+ mặt lưng màu bạc, số IMEI 1: 35859210595503; số IMEI 2: 358592105095552, Số seri R3CM902V5CW, bên trong có 02 (hai) sim số 0353076576 và 0457917212;

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 72C2-155.33, Số khung 2604JY005028, số máy: KC26E1251091, đã qua sử dụng.

- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh Kh, T ra vào nhà nghỉ vào ngày 07/9/2022 và ngày 08/9/2022 là chứng cứ của vụ án.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; các bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 07 và ngày 08/09/2022, tại phòng số 102 nhà nghỉ M, địa chỉ 944/5 đường A, phường B, TP Vũng Tàu, Vũ Duy Kh có hành vi dùng vũ lực, băng keo khống chế trói tay chân, bịt miệng, dùng tông đơ cắt tóc chị Trần Thị Cẩm T làm chị T lâm vào tình trạng hoảng loạn, sợ hãi không thể chống cự để chiếm đoạt 01 (một) dây chuyền vàng, 18K có trọng lượng 2,2 chỉ, 01 (một) vòng lắc vàng, loại vàng 18K có trọng lượng là 2,4 chỉ, trị giá 16.918.340 đồng (mười sáu triệu, chín trăm mười tám nghìn, ba trăm bốn mươi đồng) của chị T. Đồng thời sử dụng điện thoại chụp hình chị T không mặc quần áo, đang quan hệ tình dục với Kh đăng tải lên mạng xã hội (facebook) của chị T và gửi hình ảnh cho anh Nguyễn Ngọc L, mà không được sự đồng ý của chị T, nhằm mục đích làm nhục chị T.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 và tội “Làm nhục người khác” theo điểm e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân TP Vũng Tàu truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và quyền sở hữu tài sản công dân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt với mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Cẩm T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) dây chuyền vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng 2,2 chỉ; 01 (một) vòng lắc vàng, loại vàng 18K có tổng trọng lượng là 2,4 chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng đã trả lại cho chị T là đúng quy định của pháp luật;

- 01 (một) tông đơ cắt tóc không dây màu đen bạc, trên thân có in chữ SURKER màu trắng, có lưỡi cắt bằng kim loại màu trắng có dính một số sợi tóc, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 10+ mặt lưng màu bạc, số IMEI 1: 35859210595503; số IMEI 2: 358592105095552, Số seri R3CM902V5CW, bên trong có 02 (hai) sim số 0353076576 và 0457917212, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

- 01 (một) túi nylong màu đen bên trong có chứa nhiều sợi tóc màu đen được vo thành 01 cục; 01 (một) cuộn băng keo màu trắng bạc đã sử dụng; Nhiều đoạn băng keo màu trắng bạc được vò thành cục có dính nhiều sợi tóc màu đen; 01 (một) vỏ bọc cao su màu xám nhãn hiệu EROSS đã bị xé; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng là các vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 72C2-155.33, Số khung 2604JY005028, số máy: KC26E1251091, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) đĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh Kh, T ra vào nhà nghỉ vào ngày 07/9/2022 và ngày 08/9/2022 là chứng cứ của vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Vũ Duy Kh phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác”.

2. - Căn cứ: Khoản 1 Điều 168, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Duy Kh: 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”;

- Căn cứ: điểm e Khoản 2 Điều 155; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Duy Kh: 01 (Một) năm tù về tội “Làm nhục người khác”;

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo Vũ Duy Kh phải chịu là 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 9 năm 2022.

3. Trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tông đơ cắt tóc không dây màu đen bạc, trên thân có in chữ SURKER màu trắng, có lưỡi cắt bằng kim loại màu trắng có dính một số sợi tóc; 01 (một) túi nylong màu đen bên trong có chứa nhiều sợi tóc màu đen được vo thành 01 cục; 01 (một) cuộn băng keo màu trắng bạc đã sử dụng; Nhiều đoạn băng keo màu trắng bạc được vò thành cục có dính nhiều sợi tóc màu đen; 01 (một) vỏ bọc cao su màu xám nhãn hiệu EROSS đã bị xé; 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Note 10+ mặt lưng màu bạc, số IMEI 1: 35859210595503; số IMEI 2: 358592105095552, Số seri R3CM902V5CW, bên trong có 02 (hai) sim số 0353076576 và 0457917212;

- Trả lại cho bị cáo Vũ Duy Kh: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 72C2-155.33, Số khung 2604JY005028, số máy: KC26E1251091, đã qua sử dụng.

- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh Kh, T ra vào nhà nghỉ vào ngày 07/9/2022 và ngày 08/9/2022 là chứng cứ của vụ án.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 129 ngày 03/3/2023.

5. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Vũ Duy Kh cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ