- Tranh chấp gì? án hình sự — "59 - M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Trần Trọng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 59/2023/HS-ST Ngày: 12-12-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ng Đ Minh Thìn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Bạch Yến.
Ông Nguyễn Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành ph Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- i di n i n ki m sát nhân dân thành phố a éc, tỉnh ồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường An Hòa, thành ph Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý s 73/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 67/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Trần Trọng M (Tên gọi khác: Không có), sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư tr : S A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; Cha: Trần Trọng B1, sinh năm 1951 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1950; Anh chị em ruột: Không có; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án, Bản án s 48/2021/HS-ST ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân thành ph Sa Đéc xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/10/2022 (Chưa được xóa án tích).
Nhân thân:
- Ngày 08/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành ph Cần Thơ, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma t y (Đã xóa án tích).
- Ngày 09/6/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Đã xóa án tích).
- Ngày 19/10/2023 bị Tòa án nhân dân thành ph Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Tạm giữ: Ngày 19/9/2023; Tạm giam: Ngày 22/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt tại phiên tòa).
Bị h i: Anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1969.
Địa chỉ: S E, Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
Người làm chứng:
- Chị Huỳnh Th y Q, sinh năm 2004.
Địa chỉ: S E1, Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp(Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: S E2, Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trần Đức S1, sinh năm 1997.
Địa chỉ: S E3, Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp(Vắng mặt).
- Chị Trương Thị Ngọc TH1, sinh năm 1974
Địa chỉ: S E4, Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 40 ph t ngày 19/9/2023, Trần Trọng M điều khiển xe mô tô biển s 66S1 – 257.62 chạy vào chợ Sa Đéc để mua trái cây. Sau khi mua trái cây xong, M điều khiển xe chạy ngang quầy mua bán trái cây s J Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp của anh Nguyễn Mạnh K thì M phát hiện 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A53 5G, màu đen anh K để trên kệ trưng bày trái cây. M điều khiển xe quay lại đ bên đường đ i diện với quầy s J, rồi xu ng xe đi bộ đến lấy điện thoại của anh K, sau đó đi qua xe để tẩu thoát thì bị chị Huỳnh Thúy Q phát hiện nên truy hô, cùng l c này lực lượng Công an Phường 2, thành ph Sa Đéc đang tuần tra nghe thấy nên cùng người dân truy đuổi bắt được M. Qua quá trình làm việc, bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.
Sau khi hành vi phạm tội của M bị phát hiện thì M bỏ lại xe mô tô biển s 66S1 – 257.62 tại hiện trường và ném điện thoại của anh K xu ng đường cách quầy s 24 (vị trí anh K để điện thoại) là 36,5m. Cơ quan Công an đã thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu đen, đã qua sử dụng, kèm theo 01 p lưng và sim s 0797 847997; 01 xe mô tô biển s 66S1 - 257.62 và trích xuất dữ liệu Camera an ninh có ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của M lưu vào USB để làm căn cứ giải quyết.
Tại Kết luận định giá tài sản s 40/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph Sa Đéc, kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu đen, đã qua sử dụng. Giá tài sản định giá là 4.167.000 đồng.
- 01 p lưng của điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu đen, đã qua sử dụng. Giá tài sản định giá là 5.000 đồng.
- 01 phôi sim nhà mạng Mobiphone (s thuê bao 0797 847997). Giá tài sản định giá là 21.667 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là: 4.193.667 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bị hại anh Nguyễn Mạnh K nhận lại đủ tài sản mất trộm và không có yêu cầu gì.
Đ i với xe mô tô biển s 66S1 - 257.62 thu giữ của bị cáo M qua điều tra xác định:
- Biển s 66S1 - 257.62 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn N nhưng trong quá trình sử dụng bị rơi mất biển s , nên Cơ quan điều tra đã hoàn trả lại biển s 66S1 - 257.62 cho ông N (anh Nguyễn Thái H1 là con ông N nhận thay xong).
- Xe mô tô có s máy VHRHTZS150FMG200000018, s khung RMHWCGCHR5T000030 có nguồn g c thuộc sở hữu của anh Lê Đ Đức T1, nhưng bà Đ Thị Liên là mẹ anh T1 đem cầm c cho ông Mai Văn Th1, hết thời hạn cầm c bà Liên không chuộc lại, nên ông Th1 đã bán cho người khác, không nhớ họ tên địa chỉ người mua, anh T1 cũng không yêu cầu gì.
Tại Cáo trạng s 70/CT-VKSTPSĐ ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc đã truy t bị cáo Trần Trọng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên b bị cáo Trần Trọng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Trọng M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của bản án s 100/2023/HS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân thành ph Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng (tài sản tạm giữ): Hoàn trả xe môtô có s máy VHRHTZS150FMG200000018, s khung RMHWCGCHR5T000030 cho bị cáo Trần Trọng M.
Tiếp tục quản lý lưu kèm theo hồ sơ vụ án gồm hai tệp dữ liệu video tên “ch18 – 20230919104259” “ch26 – 20230919104331”. Tất cả được lưu trong USB màu đen, nhãn hiệu hoco, loại dung lượng 4GB, USB được đặt trong phong bì màu trắng, dán kín, niêm phong còn nguyên vẹn, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - C NG AN TỈNH ĐỒNG THÁP” và có các chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng D1 và Lê Văn T1; 01 đĩa DVD lưu giữ dữ liệu cần giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp.
- Ý kiến của bị cáo Trần Trọng M: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo th ng nhất Kết luận định giá tài sản s 40/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph Sa Đéc như cáo trạng truy t . Về hình phạt, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến của bị h i Nguyễn M nh K: Anh K đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu gì về dân sự. Về trách nhiệm hình sự, bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đ ng thẩm quyền, đ ng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đ ng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy t . Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 40 ph t ngày 19/9/2023, tại quầy mua bán trái cây s s J Khóm F, Phường G, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Trần Trọng M đã có hành vi lén l t chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu đen, đã qua sử dụng, kèm theo 01 p lưng và sim s 0797.847997, trị giá 4.193.667 đồng của anh Nguyễn Mạnh K nhằm mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở tại địa phương.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án do vi phạm pháp luật, trong đó có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” vừa chấp hành xong án phạt tù vào ngày 07/10/2022 chưa được xóa án tích; khi bị cáo chấp hành án tù thì bị cáo đã được cải tạo giáo dục để trở thành công dân t t, tuân thủ quy định pháp luật. Bên cạnh đó, khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo vẫn còn đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư tr ” chờ Tòa án nhân dân thành ph Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đưa ra xét xử trong vụ án hình sự trộm cắp tài sản khác. Vì vậy, bị cáo hoàn toàn nhận thức được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều sẽ bị xử lý nghiêm.
Gia đình bị cáo có truyền th ng cách mạng, bị cáo là con một, cha đã qua đời, mẹ bị cáo đã trên 70 tuổi, bị cáo có trình độ học vấn 12/12; thì lẽ ra bị cáo phải biết phát huy truyền th ng gia đình, rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân, phụ giúp mẹ, làm gương t t cho mọi người xung quanh. Nhưng với tư tưởng xấu, bản tính tham lam, lười biếng lao động, xem thường pháp luật mu n có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra nhiều công sức lao động, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý nên đã lén l t chiếm đoạt tài sản. Bị cáo phạm tội với l i c ý, động cơ mục đích vụ lợi cá nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm táo bạo, liều lĩnh: địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là tại khu vực chợ Sa Đéc có đông người, tài sản được để gần bị hại, là khu vực có gắn nhiều Camera quan sát, nếu bị cáo chiếm đoạt tài sản dễ bị phát hiện và bị bắt, nhưng bị cáo không sợ sệt mà lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 5G, màu đen, đã qua sử dụng, kèm theo 01 p lưng và sim s 0797 847997, trị giá 4.193.667 đồng của anh Nguyễn Mạnh K vì mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, xét thấy cần có thời gian cách ly để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân t t, gi p ích cho gia đình và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra tài sản đã được thu hồi trao trả lại cho bị hại; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải; Bị cáo có cha là ông Trần Trọng Bình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Đ i với xe mô tô có s máy VHRHTZS150FMG200000018, s khung RMHWCGCHR5T000030 bị cáo M khai xe mô tô này do M mua lại của người khác tên Th2 ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Kết quả tra cứu thì xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Đồng thời qua kết quả điều tra cho thấy ngày 19/9/2023 M sử dụng xe vào chợ Sa Đéc để mua trái cây. Sau khi mua trái cây xong, M điều khiển xe chạy ngang thì phát hiện điện thoại di động anh K để trên kệ trưng bày trái cây trong quầy s 24, M điều khiển xe quay lại đ bên đường đ i diện với quầy s J, rồi xu ng xe đi bộ đến lấy điện thoại của anh K, sau đó đi qua xe định tẩu thoát thì bị phát hiện, nên M bỏ lại xe mô tô tại hiện trường. Do đó, bị cáo M không có ý định sử dụng xe mô tô này để làm phương tiện đi tìm tài sản người khác lấy trộm ngay từ đầu và cũng chưa sử dụng để làm phương tiện tẩu thoát thì bị bắt, nên hoàn trả xe mô tô cho bị cáo.
Tiếp tục quản lý lưu kèm theo hồ sơ vụ án gồm hai tệp dữ liệu video tên “ch18 – 20230919104259” “ch26 – 20230919104331”.
Qua phần luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng (tài sản tạm giữ) là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Trần Trọng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Xe mô tô có s máy VHRHTZS150FMG200000018, s khung RMHWCGCHR5T000030 có nguồn g c thuộc sở hữu của anh Lê Đ Đức T1, nhưng bà Đ Thị L1 là mẹ anh T1 đem cầm c cho ông Mai Văn Th1, hết thời hạn cầm c bà Liên không chuộc lại, nên ông Th1 đã bán cho người khác, không nhớ họ tên địa chỉ người mua, anh T1 cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên b : Bị cáo Trần Trọng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng M 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023 (ngày tạm giữ).
Căn cứ vào Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của bản án s 100/2023/HS-ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân thành ph Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt bị cáo Trần Trọng M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Trần Trọng M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023 (ngày tạm giữ).
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng (tài sản tạm giữ): Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự: Hoàn trả cho bị cáo Trần trọng M xe mô tô có s máy VHRHTZS150FMG200000018, s khung RMHWCGCHR5T000030.
(Hiện xe mô tô trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Sa Đéc đang quản lý, theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/11/2023).
Tiếp tục quản lý lưu kèm theo hồ sơ vụ án gồm hai tệp dữ liệu video tên: “ch18 – 20230919104259” “ch26 – 20230919104331”. Tất cả được lưu trong USB màu đen, nhãn hiệu hoco, loại dung lượng 4GB, USB được đặt trong phong bì màu trắng, dán kín, niêm phong còn nguyên vẹn, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - C NG AN TỈNH ĐỒNG THÁP” và có các chữ ký ghi họ tên Lê Hoàng D1 và Lê Văn T1; 01 đĩa DVD lưu giữ dữ liệu cần giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Trọng M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại anh Nguyễn Mạnh K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND TP. Sa Đéc; - Công an TP. Sa Đéc (bộ phận hồ sơ nghiệp vụ); - Cơ quan CSĐT CATP. Sa Đéc; - Cơ quan THAHS CATP. Sa Đéc; - Chi cục THADS TP. Sa Đéc; - Bị cáo, bị hại; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trƣơng Thị Bạch Yến Nguyễn Văn Hai | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Đỗ Minh Thìn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thìn |