vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lăng Nhật B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lăng Nhật B 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/2/2023. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lăng Nhật B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Thuật

Ông V Minh Đón

Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký TAND huyện Y.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Tạ Hoàng Minh Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/HSST ngày 29/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 06/6/2023, đối với bị cáo:

* Bị cáo: Lăng Nhật B, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn K, xã B1, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Văn C1 và con bà Vi Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 04/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội Đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án ngày 04/8/2020. Ngày 06/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong bản án ngày 04/8/2022. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lăng Nhật B theo chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng: Bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

Người bị hại: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1989, trú tại: Thôn X, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Đỗ Thế B, sinh năm 1969 và ông ng Lưu Đình Nho, sinh năm 1965, đều trú tại: Thôn L, xã L1, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 18/02/2023, tại cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” có địa chỉ ở thôn L, xã L1, huyện Y, tỉnh Hưng Yên của chị Đỗ Thị T sinh năm 1989, trú tại: Thôn X, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lăng Nhật B, sinh năm 1995, trú tại: Thôn K, xã B1, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng của chị T. Ngay sau khi chiếm đoạt được tài sản, B đã bỏ chạy ra đường 380 hướng về UBND xã L1 thì bị chị T cùng quần chúng nhân dân truy đuổi bắt giữ. Cùng ngày, Công an xã L1 đã lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với B; thu giữ vật chứng gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu ĐT1);

- Thu tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Lăng Nhật B: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim nhãn hiệu Vinaphone, số thuê bao 0812615332 (niêm phong ký hiệu ĐT2);

- 01 khẩu T màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu xám; 01 đôi dép lê màu trắng; 01 áo khoác màu đen; 01 quần bò dài màu xanh; 01 túi xách màu đen.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lăng Nhật B ở thôn K, xã B1, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Lăng Nhật B khai nhận: Do không có việc làm ổn định, không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 14 giờ ngày 18/02/2023, Lăng Nhật B đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen bên trong có lắp sim nhà mạng Vinaphone có số thuê bao 0812615332 gọi đến số thuê bao 0397857325 rủ bạn là Hoàng Tuấn V sinh năm 1997 ở cùng thôn K, xã B1, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi chiếm đoạt tài sản tại các cửa hàng điện thoại di động để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì V đồng ý và nói với B đi đến khu vực cầu Đại Phúc thuộc thành phố B1, tỉnh Bắc Ninh để đón V. Ngay sau đó, B điều khiển mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc màu xanh đen, biển số 12X1-150.42 của mình đi từ nhà tại thôn K đến cầu Đại Phúc thuộc thành phố B1, tỉnh Bắc Ninh đến điểm hẹn. Tại đây, B và V đã bàn bạc, thống nhất với nhau về việc đi sang địa bàn tỉnh Hưng Yên để chiếm đoạt tài sản tại các cửa hàng điện thoại di động. B và V phân công nhau: B là người trực tiếp đi vào cửa hàng điện thoại di động để trộm cắp hoặc cướp giật điện thoại di động, còn V ở bên ngoài nổ máy xe mô tô đợi, khi B lấy được tài sản bỏ chạy ra xe thì V điều khiển chở B tẩu thoát. B đội mũ lưỡi trai, V đội mũ B hiểm, cả 02 đeo khẩu T, tháo biển số xe mô tô cất vào cốp xe. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở B đi từ thành phố B1, tỉnh Bắc Ninh về tỉnh Hưng Yên. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến địa phận thôn L, xã L1, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì B và V nhìn thấy cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” nên B và V đã đi xe mô tô vòng đi vòng lại hai lần để quan sát rồi V dừng xe lại chếch đối diện bên này đường với cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” (cách cửa hàng khoảng 40m) hướng đi vòng xuyến Y nổ máy đứng đợi còn B xuống xe một mình đi bộ vào cửa hàng. Thấy cửa hàng chỉ có một mình chị Đỗ Thị T trông coi và bán hàng nên B giả vờ hỏi mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64Gb và yêu cầu chị T cho xem. Sau khi cầm chiếc điện thoại nêu trên khoảng 05 phút, B lại tiếp tục hỏi mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, dung lượng 64Gb và yêu cầu chị T cho xem. Khi đã cầm 02 chiếc điện thoại trên tay, lợi dụng lúc chị T sơ hở, xung quanh không có ai khác, B nhanh chóng bỏ chạy ra đường 380 hướng về phía UBND xã L1, được khoảng 05m thì nhảy lên ngồi trên xe mô tô cùng với V để bỏ chạy. Tuy nhiên, chị T vừa đuổi theo vừa truy hô nên một số người dân đi đường đã áp sát ngăn chặn xe mô tô, B liền nhảy xuống và chạy bộ theo hướng ngược lại, chạy vào trong ngõ giáp cửa hàng điện thoại “Thành Đạt” thì bị chị T cùng quần chúng nhân dân bắt giữ, còn V lợi dụng sơ hở đã điều khiển xe mô tô chạy thoát.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐG ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng có giá trị 10.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng có giá trị 7.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của 02 chiếc điện thoại nêu trên là 17.000.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiện hiện trường, trích xuất, quản lý 04 file video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc, trong đó có 02 file video được trích xuất từ Camera an ninh của cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” được lưu trong 01 USB được niêm phong ký hiệu USB5 và 02 file video được trích xuất từ Camera an ninh phía trước nhà chị Lưu Thị Vân sinh năm 1992 ở thôn L, xã L1, huyện Y, tỉnh Hưng Yên là hàng xóm của cửa hàng điện thoại, được lưu trong 01 USB được niêm phong ký hiệu USB1.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhiều lần triệu tập làm việc đối với Hoàng Tuấn V nhưng V đều vắng mặt tại địa phương, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra quyết định truy tìm người đối với Hoàng Tuấn V nhưng đến nay chưa tìm được. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập chưa đủ cơ sở để xử lý đối với V nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150cc màu xanh đen, biển số 12X1-150.42 xác định là tài sản của Lăng Nhật B, bị can sử dụng xe để cùng V đi đến cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra quyết định truy tìm vật đối với chiếc xe trên nhưng đến nay chưa tìm được.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu trắng, dung lượng 64Gb, đã qua sử dụng xác định là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị T nên ngày 10/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra trả lại những tài sản này cho chủ sỡ hữu. Chị Đỗ Thị T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu Lăng Nhật B phải bồi thường thiệt hại.

Đối với 01 điện thoại di động Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim nhãn hiệu Vinaphone, số thuê bao 0812615332 là của bị can sử dụng để liên lạc, rủ V đi cướp giật tài sản; 01 khẩu T màu trắng, 01 mũ lưỡi trai màu xám, 01 đôi dép lê màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 quần bò dài màu xanh, 01 túi xách màu đen là T phục, đồ dùng cá nhân B mang theo khi thực hiện hành vi phạm tội còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám, đã qua sử dụng là của bị can, không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã đã nhập kho vật chứng đối với toàn bộ những đồ vật, tài sản trên chờ xử lý.

Quá trình điều tra, Lăng Nhật B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với chứng cứ tài liệu và hình ảnh trong đoạn video có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-YM ngày 26/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lăng Nhật B về tội “Cướp giật tài sản" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lăng Nhật B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: bị cáo Lăng Nhật B phạm tội “Cướp giật tài sản". Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lăng Nhật B từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù tính từ ngày 18/02/2023, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, các biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự xử phạt để xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù và miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình báo; Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐG ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Y, lời khai người bị hại, của người làm chứng ông Đỗ Thế B và ông Lưu Đình N. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 30 ngày 18/02/2023, tại cửa hàng điện thoại di động “Thành Đạt” ở thôn L, xã L1, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lăng Nhật B đã có hành vi cướp giật 02 điện thoại di động có trị giá 17.000.000 đồng của chị Đỗ Thị T thì bị bắt quả tang.

Bị cáo Lăng Nhật B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, bị cáo đã tái phạm và chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là“tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm i khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự. Nên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Pháp luật B vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bản thân bị cáo đã bị kết án về nhóm tội xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, cải tạo trở thành người tốt mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xét xử nghiêm, dành cho bị cáo một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, lần phạm tội này được xác định yếu tố tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Do đó, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm ổ định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Đỗ Thị T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Về các biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim nhãn hiệu Vinaphone, số thuê bao 0812615332 của bị cáo B liên quan đến hành vi phạm tội sẽ tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám, đã qua sử dụng; 01 khẩu T mầu trắng; 01 đôi dép lê mầu trắng; 01 mũ lưỡi trai mầu xám, 01 áo khoác mầu đen, tại cổ áo có ghi chữ JOE; 01 quần bò dài mầu xanh, tại cạp quần có chữ LEVIS STRAUSS&CO và 01 túi xách mầu đen, không liên quan đến hành vi phạm tội, tài sản không còn giá trị bị cáo không nhận lại nên cho tiêu huỷ.

- Lưu theo hồ sơ 02 USB ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo

Về án phí: Bị cáo Lăng Nhật B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lăng Nhật B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Lăng Nhật B 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/2/2023.

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, mầu đen, bên trong có lắp 01 sim nhà mạng Vinaphone có các dãy số 898402000, 11282873114, được niêm phong ký hiệu ĐT4.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, mầu xám đã qua sử dụng trong niêm phong ký hiệu ĐT4, 01 khẩu T mầu trắng; 01 đôi dép lê mầu trắng; 01 mũ lưỡi trai mầu xám, 01 áo khoác mầu đen, tại cổ áo có ghi chữ JOE; 01 quần bò dài mầu xanh, tại cạp quần có chữ LEVIS STRAUSS&CO và 01 túi xách mầu đen.

- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB trong phong bì niêm phong, ký hiệu USB1 và 01 USB trong phong bì niêm phong, ký hiệu USB5.

(Vật chứ ng trên đã chuyển Chi cục Thi hà nh á n Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngà y 09/6/2023).

5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lăng Nhật B.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ