vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Tuyên án 28/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất Đ phạm tội “Chống người thi

hành công vụ”. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Tất Đ phạm tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất Đ phạm tội “Chống người thi
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Lương Trung Đức.

2. Bà Sầm Thị Minh Khuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn

Chấn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn

xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tất Đ (tên gọi khác: Không) sinh ngày 10/4/1980, tại huyện Tr1,

tỉnh Yên Bái. nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn C , huyện Tr1, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển điện Yên Bái; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại Chi bộ Nhà máy thủy điện H, Đảng bộ xã H, huyện Tr, tỉnh Yên Bái hiện đang tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 92 – QĐ/UBKTHU ngày 19/9/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Trạm Tấu; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 đã chết và bà Hà Thị Th, sinh năm 1953; Vợ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1985 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/9/2023 đến ngày 16/9/2023, Hiện tại ngoại đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Ông Nguyễn Đăng Ng, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ B, phường M, thành

phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an huyện V. Vắng mặt.

2, Ông Hà Anh D, sinh năm 1987; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông –

trật tự, Công an huyện V. Vắng mặt.

- Những người làm chứng:

1, Ông Nguyễn Tiến D1; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự,

Công an huyện V. Vắng mặt.

2, Ông Phan Trắc T; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công

an huyện V. Có mặt.

3, Ông Đinh Quốc H1; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông – trật tự,

Công an huyện V. Có mặt.

4, Ông Trần Văn C1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H2, xã Y1, huyện Tr1,

tỉnh Yên Bái. Có mặt.

5, Ông Trần Quang C2, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố H2, thị trấn S,

huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

6, Ông Mai Lâm H3, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố H2, thị trấn S,

huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

7, Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn N, xã Ng1, huyện

Tr1, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

8, Ông Lò Văn Ch, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ T3, phường T4, thị xã Ngh,

tỉnh Yên Bái. Có mặt.

9, Ông Nguyễn Điệp Minh T5, địa chỉ: Tổ dân phố H2, thị trấn S, huyện V,

tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 11/9/2023, tại Nhà máy thủy điện Ph thuộc xã Ph,

huyện Tr, Nguyễn Tất Đ ăn cơm uống rượu cùng với Trần Văn C1, Trần Quang C2, Mai Lâm H3, Nguyễn Trung K và Lò Văn Ch (đều là công nhân làm tại nhà máy thủy điện Ph và nhà máy thuỷ điện Chí Lư thuộc địa phận xã Ph, huyện Tr, tỉnh Yên Bái). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong thì nhóm người trên tiếp tục rủ nhau đi hát, uống bia tại quán karaoke “My Lan” thuộc tổ dân phố Thác Hoa 2, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đến khoảng hơn 21 giờ 30 phút cùng ngày thì ra về. Trần Văn C1 điều khiển xe ô tô biển số 21A – 013.52 chở nhóm người trên đi trên quốc lộ 32 theo hướng thị xã Nghĩa Lộ về Nhà máy thủy điện Ph. Khi đi đến Km 191 + 400 thuộc tổ dân phố Phiêng 1, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, Trần Văn C1 thấy ở phía trước có tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự, Công an huyện Văn Chấn đang lập chốt kiểm tra hành chính theo Kế hoạch số 40/KH-GTTT ngày 11/9/2023 ra tín hiệu dừng xe ô tô thì Công dừng xe lại. Lúc này, Nguyễn Tất Đ ngồi ở ghế phụ nói với Trần Văn C1: “Đổi lái đi” nhằm mục đích cho Công trốn tránh việc bị Cảnh sát giao thông kiểm tra nồng độ cồn thì Công nghe theo, liền ra ngoài đi vòng qua đuôi xe sang cửa phía sau, định mở cửa để vào hàng ghế sau ngồi thì bị đồng chí Hà Anh D, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự, Công an huyện Văn Chấn yêu cầu chấp hành kiểm tra nồng độ cồn. Đồng thời lúc này, Nguyễn Tất Đ nói với tất cả những người ngồi sau là: “Gọi thằng Tuyền lên lái xe” thì Trần Quang C2 gọi điện thoại di động cho Nguyễn Điệp Minh T5 trú tại tổ dân phố Trung Tâm, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái là công nhân đang trực tại Nhà máy thủy điện Ph đến lái xe. Lúc này Trần Văn C1 đã chấp hành kiểm tra nồng độ cồn xong, đồng chí Hà Anh D yêu cầu Công xuất trình giấy tờ xe ô tô thì Công đi vòng qua đầu xe, đến cửa ghế lái thì Nguyễn Tất Đ yêu cầu Công “Ra ghế sau ngồi”, Trần Văn C1 liền đi vào trong xe, đóng cửa lại, trèo xuống hàng ghế sau ngồi giữa Lò Văn Ch và Nguyễn Trung K. Thấy vậy, đồng chí Hà Anh D yêu cầu Trần Văn C1 xuống xe để làm việc nhưng Công không chấp hành. Tiếp đó, đồng chí Nguyễn Đăng Ng là Phó đội trưởng đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện Văn Chấn tới đứng ở cửa ghế lái yêu cầu Trần Văn C1 xuống xe để làm việc. Lúc này, Nguyễn Tất Đ nhiều lần cố với tay để đóng cửa xe từ bên trong và có hành động chỉ tay, văng tục, chửi bới đối với đồng chí Ngọc, đồng thời Nguyễn Tất Đ nhiều lần ra lệnh cho Trần Văn C1 là “Lấy xe máy đi về”, không cho Công ra ngoài chấp hành kiểm tra. Đồng chí Ngọc tiếp tục yêu cầu Trần Văn C1 chấp hành thì Nguyễn Tất Đ liên tục chỉ tay vào mặt đồng chí Ngọc và nói nhiều câu lăng mạ, thách thức như: “Tất cả những thằng này (ý nói Tổ công tác) không làm gì được mày”; “không bao giờ làm gì được Đ đâu”; “không bao giờ phải xuống xe”. Sau đó, Nguyễn Tất Đ mở cửa xe đi ra ngoài, tiến lại gần vị trí của đồng chí Ngọc, tiếp tục chỉ tay vào mặt đồng chí Ngọc, nói to “Này, đừng động vào xe tôi” rồi đẩy mạnh cánh cửa bên ghế lái làm cánh cửa kẹp vào đốt 2 ngón III bàn tay phải của đồng chí Nguyễn Đăng Ng khiến đồng chí Ngọc không rút tay ra được. Lúc này, thấy hành vi chống đối của Nguyễn Tất Đ làm cản trở việc thi hành công vụ nên tổ công tác tiến hành khống chế Nguyễn Tất Đ và mở chốt từ bên trong để đồng chí Ngọc rút tay ra ngoài. Sau đó, Trần Văn C1, Trần Quang C2, Nguyễn Trung K, Mai Lâm H3 và Lò Văn Ch lần lượt ra ngoài và đứng tụ tập ở đuôi xe ô tô. Đồng thời, Nguyễn Điệp Minh T5 cũng đến nơi sau khi nhận cuộc gọi của Trần Quang C2 trước đó. Nguyễn Tất Đ tiếp tục nhiều lần chỉ tay vào mặt đồng chí Nguyễn Đăng Ng và văng tục, chửi bới, thách thức các đồng chí trong tổ công tác: “Tao chả sợ thằng nào”. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng Công an đưa Nguyễn Tất Đ cùng toàn bộ những người liên quan về trụ sở Công an huyện Văn Chấn để tiến hành làm việc.

Kết quả điều tra bị cáo Nguyết Tất Đ khai nhận do uống nhiều rượu, bia,

lo sợ bị kiểm tra nồng độ cồn nên bị cáo Đ đã có những lời nói và hành vi chống người thi hành công vụ nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số

163/KLTTCT-TTPY ngày 18/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái đối với Nguyễn Đăng Ng kết luận như sau: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đăng Ng tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định số 6897/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của Viện

khoa học hình sự Bộ Công an kết luận như sau “Chất máu nâu đỏ bám dính tại vị trí sườn xe bên trái ( trục B) của xe ô tô biển số 21A-013.52 là máu người và là máu của ông Nguyễn Đăng Ng”.

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS-VC ngày 09/11/2023, Viện kiểm sát

nhân dân huyện Văn Chấn đã truy tố bị cáo Nguyễn Tất Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất Đ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về xử lý vật chứng, tài sản trong vụ án: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Nguyễn Đăng Ng cùng các đồng chí

trong tổ công tác Đội cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện Văn Chấn không có yêu cầu đề nghị gì. Ngoài ra đồng chí Nguyễn Đăng Ng bị tổn thương cơ thế 01% sức khỏe nhưng đồng chí Ngọc không yêu cầu, đề nghị gì nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật.

Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan theo quy định tại Điều 331 và 333 BLTTHS.

Tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và nói lời

sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và không tranh luận gì với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng

mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai, tài liệu của những người này. Bị cáo công nhận lời khai của người được công bố là đúng và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Văn Chấn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng được Tòa án

triệu tập đến phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Trong giai đoạn điều tra vụ án đã có lời khai của họ thể hiện trong hồ sơ. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và công bố lời khai của họ tại phiên tòa.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tất Đ thừa nhận do uống rượu, bia say nên

vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/9/2023 tại Km 191+400, quốc lộ 32 thuộc địa phận tổ dân phố Phiêng 1, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, bị cáo Nguyễn Tất Đ đã có lời nói văng tục, chửi bới, thách thức, coi thường, xúc phạm và dùng vũ lực dùng tay đẩy mạnh cánh cửa xe làm cho đồng chí Nguyễn Đăng Ng bị tổn thương cơ thể 01(một)% sức khỏe, nhằm cản trở tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Văn Chấn thực hiện công vụ kiểm tra nồng độ cồn đối với Trần Văn C1 là lái xe của cơ quan Đ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi dùng lời nói, vũ lực cản trở người thi hành công vụ. Do vậy, bị cáo Nguyễn Tất Đ đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật

tự quản lý hành chính của Nhà nước, cản trở hoạt động của người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, gây mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải được xử lý công minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng

như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tất Đ đã khai nhận đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo Đ.

Về Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tất Đ trước khi phạm tội chưa có tiền án,

tiền sự, thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. HĐXX thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về hưởng án treo (số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Đ ra khỏi đời sống xã hội, cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong pháp luật hình sự. Nhưng cũng cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

* Vật chứng thu giữ đã giải quyết trong vụ án:

- 01 xe ô tô biển số 21A-013.52 nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn xanh, xe

cũ, đã qua sử dụng; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 002563 mang tên Nguyễn Văn Tường, biển số 21A-01352 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái cấp ngày 01/7/2013; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 23BB230211781 do Công ty Bảo hiểm bưu điện khu vực phía Bắc cấp ngày 05/8/2023; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DA4432794 cấp ngày 07/7/2023. Kết quả xác minh xác định những đồ vật, tài sản nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Hà Thị Thùy, sinh năm 1953, trú tại tổ 2, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái (mẹ đẻ của Nguyễn Tất Đ) nên Cơ quan điều tra đã trả lại đồ vật, tài sản nêu trên cho bà Hà Thị Thùy quản lý, sử dụng. Việc trả lại các tài sản trên là phù hợp với quy định pháp luật.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu “Vàng

Gold” dung lượng 256 gb, số IMEI 365713110136288, điện thoại đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân số 015080001944 mang tên Nguyễn Tất Đ do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 29/4/2021. Kết quả xác minh xác định những đồ vật, tài sản nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tất Đ nên Cơ quan điều tra đã trả lại đồ vật, tài sản nêu trên cho bị cáo Nguyễn Tất Đ quản lý, sử dụng. Việc trả lại các tài sản trên là phù hợp với quy định pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn

Đăng Ng bị tổn thương cơ thể 01% sức khỏe nhưng đồng chí Ngọc không yêu cầu, đề nghị gì. Các đồng chí trong tổ công tác Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Văn Chấn không có yêu cầu đề nghị gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tất Đ phải chịu án phí theo quy định pháp

luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất Đ phạm tội “Chống người thi

hành công vụ”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51;

Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất Đ 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn C , huyện Tr1, tỉnh Yên Bái giám

sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi

làm việc thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm

a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. buộc bị cáo Nguyễn Tất Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo. Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng

hình sự. Bị cáo Nguyễn Tất Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đăng Ng, Hà Anh D có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ