- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản“
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HS-ST Ngày: 24 - 3 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Long
Ông Nguyễn Thành Lam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường A – Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quốc Lưu, sinh năm 1985, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Số 118/Đ, tổ 6, ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Nguyễn Duy Hàm, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Nhiệm, sinh năm 1959; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 05 anh em; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh năm 1986; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ công an huyện Thống Nhất từ ngày 30/5/2022 đến ngày 31/5/2022 được trả tự do sau đó bị tạm giam từ ngày 16/09/2022 đến ngày 14/12/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
Ông Nguyễn Cao Thăng, sinh năm: 1963
Địa chỉ: Số 163/T, ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị Xuân, sinh năm 1964
Địa chỉ: Số 163/T, ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
2. Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số 118/Đ, tổ 6, ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
* Người làm chứng:
Ông Phạm Văn Đạo, sinh năm 1962
Địa chỉ: Ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Cao Thăng (sinh năm 1963, ngụ tại ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất) có con trai tên Nguyễn Chí Thiện (sinh năm 2000) liên quan đến một vụ đánh bạc đã được Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án vào ngày 25/4/2022. Do lo sợ con mình bị khởi tố nên ông Thăng đã liên lạc và nhờ Nguyễn Quốc Lưu lo giúp để Thiện không bị xử lý. Mặc dù không biết nội dung vụ việc của Thiện như thế nào và cũng không có khả năng để giúp cho Thiện nhưng Nguyễn Quốc Lưu vẫn hứa hẹn với ông Thăng có thể lo được cho Thiện không bị xử lý hình sự để chiếm đoạt của ông Thăng số tiền 108.000.000 đồng và 100 USD, cụ thể:
+ Lần thứ nhất: Ngày 28/4/2022, ông Thăng gọi Nguyễn Quốc Lưu đến nhà và đưa cho Lưu số tiền 80.000.000 đồng và 100 USD để Lưu lo cho Thiện.
+ Lần thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 5/2022, Nguyễn Quốc Lưu tiếp tục nói dối với ông Thăng là phải đưa tiền cho các cơ quan pháp luật (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) mỗi cơ quan 35.000.000 đồng để Thiện không bị xử lý, ông Thăng tưởng thật nên đã đưa thêm cho Lưu số tiền 25.000.000 đồng. Để tạo niềm tin cho ông Thăng, Lưu đã dẫn ông Thăng đến gặp ông Trần Đình Long là Trưởng Công an xã Gia Tân 3, khi gặp ông Long, Lưu đã đưa cho ông Long số tiền 50.000.000 đồng để ủng hộ Công an xã Gia Tân 3 lắp đặt, sửa chữa phòng tiếp dân.
+ Lần thứ ba: Khoảng giữa tháng 5/2022, Lưu tiếp tục nói ông Thăng đưa tiền để mời người giúp cho Thiện đi ăn cơm, ông Thăng tưởng thật nên đã đưa cho Lưu số tiền 3.000.000 đồng và Lưu đã chiếm đoạt số tiền trên.
Ngày 29/5/2022, ông Nguyễn Cao Thăng nhận được giấy triệu tập con trai là Nguyễn Chí Thiện lên làm việc của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất do liên quan đến vụ án đánh bạc nên biết đã bị Lưu lừa nên đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Quốc Lưu.
Số tiền 100 USD ông Nguyễn Cao Thăng đưa cho Lưu vào ngày 27/04/2022 qua xác minh tại Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh huyện Thống Nhất có giá trị 2.311.300 đồng.
Vật chứng thu giữ:
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ số tiền 110.300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của Nguyễn Quốc Lưu.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc Lưu đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 18/CT-VKS.TN ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc Lưu về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu mức án từ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 110.300.000 đồng cho ông Nguyễn Cao Thăng.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Lưu không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Lưu.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Cao Thăng đã nhận lại số tiền 110.300.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì khác.
* Trình bày của bị cáo Nguyễn Quốc Lưu tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu kính mong hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo; con gái bị cáo bị bệnh tim rất nặng tiên lượng xấu, bản thân bị cáo cũng bị bệnh tim đang điều trị, bị cáo là lao động chính trong gia đình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để lo cho gia đình điều trị bệnh cho bản thân và lo cho con gái đang bệnh, bị cáo xin hứa sẽ chấp hành tốt chính sách pháp luật để trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng cuối tháng 4/2022 và tháng 5/2022, 12 giờ 10 phút ngày 24/7/2022, tại ấp Phúc Nhạc 2, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Quốc Lưu đã có hành vi gian dối để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 110.311.000 đồng của ông Nguyễn Cao Thăng.
Hành vi trên đây của Nguyễn Quốc Lưu đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, hành vi của bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả lợi dụng lòng tin của bị hại nhằm làm lại bị hại tin đưa tài sản cho bị cáo và chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo là người đã thành niên nên có đủ khả năng nhận thức và hiểu rõ hành vi gian dối của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm vì mục đích trục lợi cho bản thân. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét nhân thân các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm sự phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả, bị hại đã nhận bồi thường và có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn bản thân bị cáo bị nhiều bệnh như sỏi thận, hở van tim ¼ đang điều trị bệnh lâu dài, ngoài ra bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi gia đình có 03 con nhỏ, 01con gái của bị cáo hiện đang bị bệnh tim tiên lượng xấu hàng ngày phải điều trị tại bệnh viện là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần tương ứng khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo tốt thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt:
Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người lao động có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân nơi cư trú bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS, tuy nhiên bị cáo có một tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, đối chiếu nghị quyết hợp nhất văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự tại khoản 2 Điều 2 “Điều kiện cho người được kết án hưởng án treo” bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo. Ngoài ra bị cáo đã có một thời gian bị tạm giam cũng đủ nhận thức được hành vi phạm tội của mình, nhận thấy việc không cách ly bị cáo để cải tạo không gây nguy hiểm cho xã hội, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giám sát đối với bị cáo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành công dân biết tuân thủ pháp luật. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 110.300.000 đồng cho ông Nguyễn Cao Thăng là đúng quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của bị cáo Lưu theo lời khai trong quá trình điều tra xác định điện thoại trên là của vợ bị cáo chị Nguyễn Thị Thanh Thảo cho bị cáo mượn, chị Thảo không biết bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Thảo là đúng quy định.
Về biện pháp tư pháp: Ông Nguyễn Cao Thăng đã nhận lại số tiền 110.300.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với tài liệu chứng cứ của vụ án và quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 46, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản“
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu 02 (hai) năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Quốc Lưu cho Ủy ban nhân dân xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Về biện pháp tư pháp:
Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Cao Thăng số tiền đã chiếm đoạt là 110.300.000 đồng ông Thăng đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì khác.
4. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quốc Lưu có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND H. Thống Nhất; - Cơ quan CSĐT CA H. Thống Nhất; - Cơ quan THA HS H. Thống Nhất - Nhà tạm giữ CA H. Thống Nhất; - Thi hành án DS H. Thống Nhất; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phan Ngọc Thành |