- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH T ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HS-ST Ngày 12-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt C.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ma Quốc T.
2. Ông Trần Hữu L.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Bàng Đức H – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với:
Bị cáo: HÀ VĂN N - Sinh ngày: 10-02-1985 tại huyện S, tỉnh T.
Nơi cư trú: Thôn ĐC, xã HH, huyện S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hà Văn V (đã chết); Con bà: Vũ Thị C – Sinh năm: 1951; Vợ: Phan Thị T – Sinh năm: 1988; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Hà Văn N bị bắt tạm giam ngày 13-01-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 29/2023/HSST-QĐTG ngày 12-4-2023 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T. Có mặt.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, N dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12-01-2023, bị cáo Hà Văn N là người sử dụng chất ma túy, điều khiển xe mô tô Honda Dream II màu nâu, biển kiểm soát 29-977-Z1 (xe của bị cáo Hà Văn N) đi đến tổ dân phố Kỳ Lâm, thị trấn S, huyện S, tỉnh T mục đích mua ma túy (loại Heroine) về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, bị cáo N gặp và mua của một người đàn ông (không xác định được tên, địa chỉ) được 04 gói ma túy (loại Heroine); (Trong đó: 03 gói được gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng có dòng kẻ; 01 gói được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng) với số tiền 400.000 đồng. Bị cáo N cất giấu 04 gói ma túy vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Khi đến đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố Kỳ Lâm, thị trấn S, huyện S, tỉnh T thì bị Tổ công tác Công an thị trấn S và Công an xã HH, huyện S, tỉnh T đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 21 giờ cùng ngày. Bị cáo N tự giác giao nộp 04 gói ma túy.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với bị cáo Hà Văn N kết quả: (+) Dương tính với ma túy. Bị cáo N khai nhận: Ngày 09-01-2023, bị cáo N đã mua và sử dụng ma túy tại thôn Núi Độc, xã HH, huyện S, tỉnh T.
Tại Kết luận giám định số: 168/KL-KTHS ngày 17-01-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật (thu giữ của Hà Văn N) gửi đi giám định là chất ma túy, loại Heroin (Hêrôin) khối lượng 0,197 gam (không phẩy một chín bảy gam)
Tại cáo trạng số: 66/CT-VKSSD ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Văn N. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh T đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Hà Văn N bị bắt tạm giam (ngày 13-01-2023).
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hà Văn N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Hà Văn N giám định ngày “13/01/2023”.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn N tài sản không phải là vật chứng.
01 xe mô tô Honda Dream II màu nâu, biển kiểm soát 29-977-Z1;
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hà Văn N.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Hà Văn N nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Hà Văn N nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị với HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở N dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Hà Văn N khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 21 giờ ngày 12-01-2023, tại đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố Kỳ Lâm, thị trấn S, huyện S, tỉnh T, bị cáo Hà Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,197gam (không phẩy một chín bảy gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,197gam ma túy, loại Heroine với lỗi cố ý. Như vậy đã có căn cứ kết luận bị cáo tàng trữ trái phép ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Hà Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Hà Văn N làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Hà Văn N thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Chất ma tuý là chất kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Từ đó, phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác như cướp giật, trộm cắp, lây truyền đại dịch bệnh HIV-AIDS là rất nguy hiểm cho xã hội nói chung và trên địa bàn huyện S, tỉnh T nói riêng. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh đối với bị cáo và cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để giúp bị cáo cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung tội phạm này.
Về vật chứng:
- 01 Phong bì, bên trong có chứa ma túy. HĐXX xét thấy, đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 phong bì bên trong chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài phong bì có chữ ký của Hà Văn N và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh T.
- Đối với 01 xe mô tô Honda Dream II màu nâu, biển kiểm soát 29-977-Z1; là tài sản của bị cáo Hà Văn N. HĐXX xét thấy, đây là chiếc xe mô tô sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày của bị cáo và gia định. Tuy ngày 12-01-2023, bị cáo có sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, nhưng bị cáo không thường xuyên hay chuyên sử dụng chiếc xe mô tô này vào việc mua ma túy. Do vậy, chiếc xe mô tô biển số đăng ký 29-977-Z1 không phải là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và cần trả lại cho bị cáo N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn N tài sản không phải là vật chứng.
01 xe mô tô Honda Dream II màu nâu, biển kiểm soát 29-977-Z1.
Về án phí: Bị cáo Hà Văn N thuộc diện hộ nghèo. Do vậy, HĐXX miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hà Văn N là có căn cứ.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam với bị can, ra quyết định truy tố; ra Cáo trạng; thu thập chứng cứ tài liệu đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy ngày 09-01-2023 của bị cáo N, Công an huyện S, tỉnh T đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 63/QĐ-XPHC ngày 03-3-2023.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo N vào ngày 12-01-2023, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không căn cứ điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hà Văn N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo N bị bắt tạm giam (ngày 13-01-2023).
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Hà Văn N; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Hà Văn N giám định ngày “13/01/2023”.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn N tài sản không phải là vật chứng.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, màu nâu, biển số đăng ký 29-977-Z1, số khung 0033859, số máy 0033859, xe cũ đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21-4-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh T).
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hà Văn N.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11-5-2023)
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện S; - VKSND tỉnh T; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S; - Trại tạm giam Công an tỉnh T; - Tòa án nhân dân tỉnh T; - Sở tư pháp tỉnh T; - Chi cục THADS huyện S; - Lưu hs, hstha, vp. | T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Việt C |