vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày: 28/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh N, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Trần Thanh D, sinh năm: 1964 (chết); Họ tên mẹ: Dương Thị P, sinh năm: 1964; Anh, chị, em ruột: có 04 người, kể cả bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn từ ngày 24/11/2022 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Huỳnh Kim O, sinh năm 2001 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 23/2Q ấp C, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh N quen biết Huỳnh Minh T, khoảng cuối tháng 10/2022, T rủ N về nhà tại địa chỉ 23/2Q ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh chơi. Do không có tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong nhà của Trọng để bán. Khoảng 10 giờ ngày 02/11/2022, lợi dụng lúc T ngủ say và chị Huỳnh Kim O (chị của T) không có nhà, N lén lút lục tủ quần áo trong phòng chị O, lấy trộm số tài sản gồm: 02 nhẫn vàng 9999 trọng lượng 01 chỉ, 01 chiếc lắc vàng 18K trọng lượng 01 chỉ 05 phân, 01 bộ vòng ximen (07 chiếc) vàng 18K trọng lượng 03 chỉ 03 phân, 01 đôi bông vàng 18K trọng lượng 04 phân và 900.000 đồng tiền mặt trong con heo đất của chị O. Sau khi lấy trộm được số tài sản trên thì N rời khỏi nhà T.

Chiều cùng ngày, Ng mang 02 chiếc nhẫn vàng 9999 và 01 chiếc lắc vàng 18K đến tiệm vàng Vũ Ngọc Tâm (địa chỉ: số 6 đường Bùi Văn Ngữ, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, TP.HCM) để bán. Trưa ngày 03/11/2022, N tiếp tục mang 01 bộ vòng ximen (07 chiếc) vàng 18K và 01 đôi bông vàng 18K đến tiệm vàng Minh Tâm Hiếu (địa chỉ: 373 Kinh Dương Vương, Khu phố 6, phường An Lạc, quận Bình Tân, TP.HCM) để bán. Tổng số tiền bán vàng được 17.566.000 đồng, N trả nợ cho một người tên H (không rõ lai lịch) và tiêu xài hết.

Khuya ngày 22/11/2022, Trọng gặp N tại khu vực bến xe Miền Tây nên đã đưa N đến Công an xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn trình báo sự việc. Công an xã Tân Xuân lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn xử lý theo thẩm quyền.

Kết luận định giá số 192/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn:

- 02 chiếc nhẫn vàng 9999, trọng lượng 01 chỉ có giá 5.170.000 đồng tại thời điểm ngày 02/11/2022.

- 01 chiếc lắc vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ 05 phân có giá 5.629.350 đồng tại thời điểm ngày 02/11/2022.

- 01 bộ vòng 07 chiếc vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ 03 phân có giá 12.384.570 đồng tại thời điểm ngày 02/11/2022.

- 01 đôi bông vàng 18K, có trọng lượng 04 phân có giá 1.501.160 đồng tại thời điểm ngày 02/11/2022.

Tổng số tiền là: 24.685.080 đồng.

Tại Cơ quan CSĐT, N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 áo khoác màu xám thu giữ của N mặc khi đi bán vàng.

Anh Đỗ Xuân Phong (chủ tiệm vàng Vũ Ngọc Tâm) khi mua vàng không biết vàng do N trộm cắp mà có. Mua xong anh đã nấu vàng và mang đi đổi nên CQĐT không thu hồi được. Do thời gian đã lâu, Anh Đặng Đình Cường (nhân viên tiệm vàng Minh Tâm Hiếu) không xác định được có mua vàng của N hay không vì không còn lưu dữ liệu camera nên CQĐT không thu hồi được vật chứng.

Về dân sự: Bị hại là chị Huỳnh Kim O yêu bồi thường số tiền là 22.100.000 đồng, bị can chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSHM-HS ngày 07/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh N từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 22.100.000 (Hai mươi hai triệu một trăm ngàn) đồng, bị cáo đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

- Về xử lý vật chứng: 01 áo khoác màu xám thu giữ của N, đây là trạng phục bị cáo mặc khi đi bán vàng. Bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, với bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 02/11/2022, tại nhà số 23/2Q ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh N đã lợi dụng sơ hở của gia đình bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản là số trang sức bằng vàng trị giá 24.685.080 đồng (theo Kết luận định giá số 192/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn) và số tiền 900.000 (chín trăm ngàn) đồng tiền mặt của bị hại Huỳnh Kim O.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã thành niên, có khả năng lao động nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng” nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 22.100.000 (hai mươi hai triệu một trăm ngàn) đồng, (bao gồm giá trị số trang sức bằng vàng và 900.000 đồng tiền mặt). Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu xám thu giữ của Ng, là trang phục bị cáo mặc khi đi bán vàng. Bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

Đối với Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Vũ Ngọc Tâm (do ông Đỗ Xuân Phong làm chủ) khi mua vàng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở truy cứu, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với Tiệm vàng Minh Tâm Hiếu, không còn dữ liệu camera, không xác định được có mua số vàng của bị cáo hay không, không có cơ sở truy cứu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2022.

3. Tạm giam bị cáo Trần Thanh N 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu xám thu giữ của Ngọc, đây là trang phục bị cáo mặc khi đi bán vàng. Bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKS-HS ngày 07/02/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/02/2023).

5. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Trần Thanh N bồi thường cho bị hại Huỳnh Kim O số tiền 22.100.000 (Hai mươi hai triệu một trăm nghìn) đồng, thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Huỳnh Kim O, nếu bị cáo Trần Thanh N chưa thi hành khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên thì hàng tháng bị cáo Ng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án

6. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh N phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.105.000 (Một triệu một trăm lẻ năm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

7. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ