- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thi L "Cuop giat tai san" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HS-PT Ngày: 10 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Đức
Ông Nguyễn Thành Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 154/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Cao Thị L; do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2022/HS-ST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo bị kháng nghị: Cao Thị L, sinh năm 1992, tại Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã N, huyện NL, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ TA, Phường 12, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Q (đã chết) và bà Ngô Thị T, sinh năm: 1949; chồng (không đăng ký kết hôn): Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1992; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Thị L từ Nghệ An vào thành phố ĐL sinh sống và làm vườn từ tháng 4/2018. Đến tháng 10/2021, do sắp sinh con, L nghỉ làm nên không có tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ ngày 21/12/2021, L điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius màu trắng biển số 36E1- 166.53 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng để làm giấy chứng sinh cho con rồi về lại phòng trọ tại Tổ T, Phường 12, thành phố ĐL. Khi đang lưu thông trên Nguyễn Công Trứ đoạn dừng đèn giao thông tại Ngã Năm đại học, L thấy bà Đoàn Tô Thục Đ là người bán vé số đang dắt xe đạp qua đường nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Đ. Thực hiện ý định, L điều khiển xe môtô lên đường B giả vờ hỏi đường bà Đ. Sau đó, L hỏi mượn điện thoại di động của bà Đ để gọi điện thoại cho người nhà thì bà Đ nói L đọc số để bà bấm số gọi giúp nhưng L nói bà Đ đưa điện thoại để L tự gọi thì bà Đ đồng ý. Sau khi cầm được điện thoại di động của bà Đ trên tay, L giả vờ hỏi mua 02 tờ vé số của bà Đ. Khi thấy bà Đ cúi đầu lấy vé số từ trong túi vải đang đeo trên người, L liền rồ ga xe bỏ chạy được khoảng 300m thì bị người dân bắt giữ và giao cho cơ quan công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đến ngày 21/12/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã trả tự do cho Cao Thị L do đang nuôi con nhỏ. Tại cơ quan điều tra, Cao Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Người bị hại là bà Đoàn Tô Thục Đ bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen. Tại Kết luận định giá tài sản số 233/KL-ĐG ngày 29/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố ĐL kết luận điện thoại trên trị giá 2.350.000 đồng. Bà Đ đã nhận lại điện thoại, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKSĐL-LĐ ngày 21/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố Cao Thị L về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 154/2022/HS-ST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL đã xử;
Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 22/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 41/QĐ-VKS-P7, đề nghị áp dụng khung hình phạt theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử và tăng hình phạt đối với bị cáo L.
Tại phiên tòa hôm nay,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Thị L từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì thấy rằng: Vào lúc khoảng 09 giờ ngày 21/12/2021, tại đường B, thành phố ĐL, bị cáo thấy bà Đoàn Tô Thục Đ là người bán vé số đang dắt xe đạp qua đường nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà Đ. Thực hiện ý định, L giả vờ hỏi đường bà Đ và hỏi mượn điện thoại di động của bà Đ để gọi điện thoại cho người nhà, khi cầm được điện thoại di động của bà Đ trên tay, bị cáo đã sử dụng xe mô tô nhanh chóng bỏ chạy. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà Đ là 2.350.000 đồng. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo L về tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị xử phạt bị cáo L theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và tăng hình phạt đối với bị cáo L.
Hội đồng xét xử thấy rằng, theo quy định tại Mục I - Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại như dùng xe mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản. Bị cáo đã dùng xe máy rồ ga sẵn, rồi khi cầm được điện thoại của bị hại đã nhanh chóng bỏ chạy. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là không phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là có cơ sở nên cần chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án sơ thẩm. Xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Thị L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND thành phố ĐL (03); - VKSND thành phố ĐL (01); - Cơ quan CSĐT CA thành phố ĐL (01); - Cơ quan THAHS CA thành phố ĐL (01); - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (01); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Duy Hoài |