vanban.org

Bản án 59/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!!!!!!!!!TỈNH!ĐỒNG!NAI!
Bản án số: 59/2023/HS-PT
Ngày: 27/02/2023

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!ĐỒNG!NAI!

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa:"Bà Phan!Thị!Thu!Hương!

Các"Thẩm"phán:

Bà Phạm!Thị!Xuân!Đào

Bà Vũ!Thị!Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 429/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo H.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 181/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Bị"cáo"kháng"cáo:""

H, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố P, Thị trấn P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Khu phố P, Thị trấn P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:Không; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 2/12; Dân tộc: Khơme; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông T, sinh năm 1965 (đã chết)và bà Nguyễn N, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ tên Trần L, sinh năm 1988 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013); Tiền án: không, tiền sự: không; Nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ (tạm giam) từ ngày 28/4/2022, đến ngày 02/6/2022 được tại ngoại điều tra, chờ xét xử (có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ T(sinh năm 1986), ngụ tại ấp Châu Thành, xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng là nhân viên bảo vệ dịch vụ Việt Thăng Long làm nhiệm vụ bảo vệ tại Công trình xây dựng Công ty TNHH Sai Tex Fabrics Việt Nam tại Khu công nghiệp 6, huyện Nhơn Trạch do Công ty cổ phần xây lắp thương mại 02 làm thầu xây dựng. Khi làm nhiệm vụ bảo vệ tại công trình T phát hiện có nhiều sắt xây dựng nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Tiến hành trên T điện thoại cho H (là người mua phế liệu), nói với H đến 02 giờ sáng ngày 04/8/2021 đến công trình công ty chở sắt phế liệu mà T trộm cắp được, H đồng ý, H và T thỏa T với nhau mỗi chuyến xe H sẽ đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng. Đến khoảng 02 giờ ngày 04/8/2021, H điều khiển xe ba gác mang biển kiểm soát 60Y1-8829 đến gặp T dẫn vào vị trí để sắt. H và T cùng khiêng sắt để lên xe ba gác để H mang đi cất giấu tại nhà H ở khu phố Phước Hiệp, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch được 02 lần mỗi lần 01 tấn sắt. Cùng với thủ đoạn như trên đến khoảng 02 giờ ngày 05/8/2021, T và H tiếp tục trộm cắp 01 tấn sắt phế liệu mang về nhà H cất giấu. Sau đó H đem bán toàn bộ số sắt trộm được cho một người tên L (chưa rõ nhân thân) được số tiền 30.000.000 đồng, T được hưởng 15.000.000 đồng, H được hưởng 15.000.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/8/2022, T tiếp tục điện thoại cho H hẹn vào lúc 02 giờ ngày 06/8/2022 cùng T trộm cắp tài sản. T và H trộm 02 lần được 1.517 kg sắt đem về nhà H cất giấu. Sau đó T và H tiếp tục trộm 1.060 kg sắt, H điều khiển xe ba gác mang biển kiểm soát 60Y1-8829 chở số sắt trộm cắp đem đi cất giấu, khi đến đường số 6 thuộc khu công nghiệp 3, huyện Nhơn Trạch thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

* Tang vật thu giữ:

- 01 xe ba gác mang biển kiểm soát 60Y1-8829.

- 19 cây chống rin D49*2m; 60 cây chống nêm 49*2.5m; 100 cây chống nêm 49*1.5m; 10 cây chống nêm 49*01m; 7 cây chống nêm 49*2m; 03 cây kích U D34*0.5m; 488 cây tay giằng nêm D42*0.9m; 35 cây tay giằng nêm D42*0.6m; 31 cây tay giằng nêm D42*1.2m; 29 cây tay giằng rin D49*1m; 20 cây tay chống rin lock D49*01m; 34 cây xà gồ 40*80*02m; 32 cây xà gồ 40*80*03m; 36 cây xà gồ 40*80*03m; 36 cây xà gồ 50*50*06m (đã xử lý vật chứng trả cho đại diện bị hại là anh Trần Quốc Lý).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 138/KLĐG-HĐĐG ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch kết luận: 19 cây chống rin D49*2m; 60 cây chống nêm 49*2.5m; 100 cây chống nêm 49*1.5m; 10 cây chống nêm 49*01m; 7 cây chống nêm 49*2m; 03 cây kích U D34*0.5m; 488 cây tay giằng nêm D42*0.9m; 35 cây tay giằng nêm D42*0.6m; 31 cây tay giằng nêm D42*1.2m; 29 cây tay giằng rin D49*1m; 20 cây tay chống rin lock D49*01m; 34 cây xà gồ 40*80*02m; 32 cây xà gồ 40*80*03m; 36 cây xà gồ 40*80*03m; 36 cây xà gồ 50*50*06m; 3000 kg sắt phế liệu. Tổng trị giá tài sản là 90.001.240 đồng.

- Số tiền 30.000.000 đồng H giao nộp khắc phục hậu quả (đã xử lý vật chứng trả cho đại diện bị hại là anh Trần Quốc Lý).

Tại"Bản"án"hình"sự"sơ"thẩm"số"181/2022/HSST"ngày"29/9/2022"của"Tòa"án" nhân"dân"huyện"Nhơn"Trạch"đã"tuyên"xử: Bị cáo H –02 (hai) năm tù giam.Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào trại thi hành án phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2022 đến ngày 02/6/2022

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05 tháng 10 năm 2022 bị cáo H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án:

Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng tội danh, khung hình phạt và đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phải nuôi mẹ già, có 02 con nhỏ (trong đó có 01 con bị bệnh tâm thần). Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo H: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, và thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, trính độ văn hóa thấp (2/12), tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, tự nguyên bồi thường khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã cung cấp thêm chứng cứ đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo phải nuôi mẹ, vợ và 02 con nhỏ.

Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì"các"lẽ"trên,"

Căn cứ điểm b Khoản 1, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, sửa bản án sơ thẩm số 181/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

1. Xử phạt: Bị cáo H 01!(một)!năm!tù giam.Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào trại thi hành án phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2022 đến ngày 02/6/2022.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. !

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.!

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

Cỡ chữ