vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Kiều E về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lý Văn L được ly hôn bà Hồ Thị Kiều E. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Văn Lẹ - Hồ Thị Kiều Em"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ
Ngày 26/5/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Yến Loan;

2. Bà Dương Thị Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1146/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lý Văn L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp H, xã Đào Hữu C, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; tạm trú: 1/25 tổ 1, khu phố H, phường Th, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Hồ Thị Kiều E, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp H, xã Đào Hữu C, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; tạm trú: Số nhà 1/148, khu phố H, phường Th, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lý Văn L trình bày:

Ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E quen biết và tự nguyện tìm hiểu sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Hữu C, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang vào 07/01/2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 07. Thời gian đầu sau khi kết hôn ông Lý Văn L bà Hồ Thị Kiều E sống hạnh phúc, sau đó ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cả hai không tìm được tiếng nói chung. Ông Lý Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với bà Hồ Thị Kiều E.

Về con chung: Ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E có 01 con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013, ngoài ra không còn con chung, con riêng nào khác. Sau khi ly hôn ông L đồng ý để bà Hồ Thị Kiều E được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lý Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013 số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Quá trình tố tụng, bị đơn bà Hồ Thị Kiều E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc để cung cấp lời khai, hòa giải và tham gia phiên tòa..

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Hồ Thị Kiều E có địa chỉ tạm trú tại số nhà 1/148, khu phố H, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Lý Văn L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Hồ Thị Kiều E và yêu cầu giao con chung cho bà Hồ Thị Kiều E nuôi dưỡng, giáo dục nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E tìm hiểu và tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đào Hữu C, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang vào 07/01/2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn ông Lý Văn L xác định sau khi chung sống với nhau được thời gian đầu hạnh phúc thì ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau không còn tiếng nói chung. Hiện nay nguyên đơn ông Lý Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Kiều E. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn L về việc yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Kiều E.

Về con chung: Quá trình chung sống ông Lý Văn L và bà Hồ Thị Kiều E có 01 con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013, ngoài ra không còn con chung, con riêng nào khác. Sau khi ly hôn, ông L đồng ý giao con chung cho bà Hồ Thị Kiều E được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2023 cháu Lý Tiến Ph cũng thể hiện ý chí muốn được ở cùng bà E. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông L về việc giao con chung cho bà E được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lý Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013 số tiền 1.000.000 đồng/tháng, thực hiện cấp dưỡng từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Ông Lý Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 244, Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn L đối với bị đơn bà Hồ Thị Kiều E về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lý Văn L được ly hôn bà Hồ Thị Kiều E.

- Về con chung: Bà Hồ Thị Kiều E được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lý Tiến Phát, sinh ngày 18/10/2013.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lý Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Lý Tiến Ph, sinh ngày 18/10/2013 số tiền 1.000.000 đồng/tháng, thực hiện cấp dưỡng từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm trả còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Lý Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003479 ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ