vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 15/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Lệ C.

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Lệ C được ly hôn với ông Trần Viết Đ. Về việc nuôi con chung: Giao cháu Trần Viết Hoàng A cho bà Ngô Thị Lệ C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Trần Viết Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 59 ngày 15/06/2023 của TAND thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế về C - Đ - Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Lệ C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ,TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Xuân và ông Nguyễn Hữu Trực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 103/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Lệ C, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 11A Vũ Ngọc P, phường X, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Viết Đ, sinh năm: 1972. Địa chỉ: 37 Lê D, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án nhân dân thành phố Huế, nguyên đơn bà Ngô Thị Lệ C trình bày:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Lệ C và ông Trần Viết Đ quen biết, tìm hiểu nhau được một thời gian thì tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15/9/1997. Sau khi chung sống với nhau một thời gian, vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, ông Đ không quan tâm đến cuộc sống gia đình mà thường xuyên vô cớ, nhiều lần bỏ đi khỏi nhà mà không rõ lý do, ông Đ có người phụ nữ khác ở bên ngoài. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hiện nay cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nay bà C nhận thấy không còn tình cảm với ông Đ nên bà Ngô Thị Lệ C yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Viết Đ.

[2] Về con chung: Bà Ngô Thị Lệ C xác nhận vợ chồng có 03 người con chung là cháu Trần Viết Khánh L, sinh ngày 01/5/1998, Trần Viết Diễm M, sinh ngày 29/5/2002 và Trần Viết Hoàng A, sinh ngày 13/12/2012. Hiện chị Khánh L và Diễm M đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu Hoàng A đang ở với bà C. Bà C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả cháu Hoàng A đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Lệ C xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ cố tình không đến nên không có lời khai và không hòa giải được.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng, không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Lệ C, bà C được ly hôn với ông Trần Viết Đ.

- Về con chung: Có b 03 con chung nhưng hiện tại chị Khánh L và Diễm M đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu Hoàng A cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Viết Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Viết Đ không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự từ bỏ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Toà án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của bà Ngô Thị Lệ C, kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, ý kiến của chính quyền địa phương nơi bà C ông Đ sinh sống và các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bà Ngô Thị Lệ C và ông Trần Viết Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15 tháng 9 năm 1997 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Đ không có trách nhiệm với gia đình. Hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng ông Đ vẫn không đến Toà án làm việc. Điều này thể hiện ông Đ không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, từ bỏ hôn nhân. Phía bà Ngô Thị Lệ C cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không còn quan tâm đến nhau nên cương quyết ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Ngô Thị Lệ C và ông Trần Viết Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà C xin ly hôn với ông Đ là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Lệ C.

. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngô Thị Lệ C xác nhận vợ chồng có 03 người con chung là cháu Trần Viết Khánh L, sinh ngày 01/5/1998, Trần Viết Diễm M, sinh ngày 29/5/2002 và Trần Viết Hoàng A, sinh ngày 13/12/2012. Hiện chị Khánh L và Diễm M đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu Hoàng A đang ở với bà C. Bà C có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng A đến tuổi trưởng thành. Cháu Hoàng A có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà C đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho cháu nên cần giao cháu Trần Viết Hoàng A cho bà Ngô Thị Lệ C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Ông Trần Viết Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Lệ C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị Lệ C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 88 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Lệ C.

- Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Lệ C được ly hôn với ông Trần Viết Đ.

- Về việc nuôi con chung: Giao cháu Trần Viết Hoàng A cho bà Ngô Thị Lệ C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Trần Viết Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Trần Viết Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Lệ C phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2021/0005838 ngày 19/4/2023 của C cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nõi nhận:

Cỡ chữ