- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đắc P được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 8 năm 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm P - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Tuyết Mai;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ
Ông Trần Minh Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị T Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/4/2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Đắc P, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đông B, thị trấn GB, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn ĐB, thị trấn GB, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện trú tại: Đài Loan. Vắng mặt ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án nguyên đơn anh Hoàng Đắc P trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày 18/12/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa Tận, đến tháng 7/2022 chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do khoảng cách địa lý nên vợ chồng phát sinh mâu Tẫn. Trong thời gian đó anh mong muốn tiếp tục chung sống để chăm lo cho con cái nhưng do bất đồng quan điểm nên không có kết quả. Chị T cho địa chỉ nơi cư trú ở Đài Loan là 30 Miêu Lật, Đài Trung, Đài Loan nhưng thông tin địa chỉ đó không đúng. Hiện tại, anh không biết địa chỉ của chị T ở Đài Loan và cũng không liên lạc được với chị Thảo. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án cho anh và được ly hôn chị T.
- Con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 09/09/2019. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dư ng nuôi con.
- Tài sản chung, công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn là chị Nguyễn Thị T hiện đang lao động tại Đài Loan. Tòa án đã tiến hành làm việc với bố chị T là ông Nguyễn Sỹ T thì được ông T cung cấp: Hiện nay chị T đang lao động tại Đài Loan, chị T chỉ liên lạc với gia đình qua điện thoại, ông đã thông báo cho chị T biết việc anh T đề nghị tòa án giải quyết ly hôn và ông thay chị T nhận các văn bản của Tòa án. Tuy nhiên, chị T không cung cấp địa chỉ cho ông và cũng không gửi văn bản từ Đài Loan về cho Tòa án. Chị T có trao đổi với ông là đồng ý ly hôn; giao con chung là cháu Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 09/09/2019 cho anh T nuôi dư ng; tài sản chung và công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T không có mặt nên Tòa án không tiến hành được.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Hoàng Đắc T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị T vắng mặt mặc dù Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm P, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật; anh Hoàng Đắc T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, chị Nguyễn Thị T không thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu của anh T.
Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hoàng Đắc P được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
- Con chung: Giao cháu Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 09/09/2019 cho anh Hoàng Đắc P nuôi dư ng. Cấp dư ng nuôi con: Không giải quyết.
- Tài sản chung và công nợ: Không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Thủ tục tố tụng:
Anh Hoàng Đắc P có đơn yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị T có địa chỉ: Thôn Nghĩa Vy, xã Hoài Thượng, thị xã Tận Thành, tỉnh Bắc Ninh; hiện trú tại: Đài Loan. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho chị Nguyễn Thị T nhưng không thể xác định rõ địa chỉ của chị T. Chị T không trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu ly hôn của anh P.
Tòa án đã tiến hành thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án về việc ly hôn giữa anh Hoàng Đắc P và chị Nguyễn Thị T; anh P có đơn xin xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Đắc P và chị Nguyễn Thị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đắc P và chị Nguyễn Thị T kết hôn ngày 18/12/2018 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo pháp luật. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của anh Hoàng Đắc P và chị Nguyễn Thị T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022, do chị T đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng sống xa nhau nên đã phát sinh mâu Tẫn. Anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đã đề nghị được ly hôn chị T.
Xét thấy, mâu Tẫn của anh P và chị T đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh T phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng nên được chấp nhận.
- Con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 09/09/2019. Do chị T đang sinh sống tại Đài Loan và anh T có nguyện vọng được nuôi dư ng con chung. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh T và giao con chung cho anh T nuôi dư ng là phù hợp.
- Cấp dư ng nuôi con: Do anh T không yêu cầu chị T cấp dư ng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Anh Hoàng Đắc P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 37, 38, 39, 147, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đắc P được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
2. Con chung: Giao cháu Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 09/09/2019 cho anh Hoàng Đắc P nuôi dư ng kể từ 8/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
4. Án phí: Anh Hoàng Đắc P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai T số: AA/2021/0000344 ngày 11/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - UBND thị trấn Gia Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XỬ SƠ THẨM THẨM P-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuyết Mai |