- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Lăng D ly hôn Phạm Thị C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Vũ Lăng D ly hôn chị Phạm Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2023 V/v tranh chấp: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2023, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 234/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/7/2023, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Lăng D, sinh năm 1987, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 14, thôn T, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1986; vắng mặt.
Quê quán: Khu x, xã G, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.
Địa chỉ: Xóm y, thôn T, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
3. Người làm chứng: Bà Hà Thị H, sinh năm 1962; vắng mặt.
Địa chỉ: Khu 2, xã G, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh D, bị đơn chị C trình bày: Anh, chị kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn tại UBND xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/4/2019. Vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nết và đã sống ly thân. Nay, anh D, chị C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D xin ly hôn, chị C đồng ý.
Về con chung: Anh D, chị C xác định không có con chung, nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản, nợ chung, công sức: Anh D, chị C xác định không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai bà H, là mẹ của chị C xác định: Anh D, chị C là vợ chồng; trong quá trình chung sống hai bên có phát sinh mâu thuẫn, đã được gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không thành, đến nay không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Nay các bên đương sự ly hôn, bà H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà H xác định đối với các văn bản tố tụng của Tòa án đã giao, thông báo cho chị C.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và đề nghị áp dụng Điều 39 Bộ luật dân sự. Điều 147, 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xử, anh D được ly hôn chị C; anh D phải chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX, nhận định.
. Về thủ tục tố tụng: Anh D đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; chị C được Tòa án triệu tập hợp lệ, hợp pháp nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.
. Về hôn nhân: Anh D, chị C kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn tại UBND xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ngày 01/4/2019, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nết. Theo chính quyền địa phương, người thân trong gia đình của đương sự đều xác định, mâu thuẫn giữa các bên đương sự đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án, anh D, gia đình của đương sự đã thông báo cho chị C biết, nhưng chị C không tham gia phiên hòa giải, điều này chứng tỏ chị C không tha thiết, mong muốn tìm kiếm biện pháp để cải thiện tình trạng hôn nhân, còn anh D cương quyết xin ly hôn. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa các bên đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh D và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử anh D được ly hôn chị C.
. Về con chung: Anh D, chị C không có con chung, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Về tài sản, nợ, công sức: Anh D, chị C đều xác định không có tài sản; không nợ và không cho ai vay tài sản; không có tài sản và công sức đóng góp cho gia đình, nên không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Anh Vũ Lăng D ly hôn chị Phạm Thị C.
2. Về án phí: Anh Vũ Lăng D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000882, ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - UBND xã T, huyện Thanh Hà; - UBND xã G, huyện Lang Chánh; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Toà án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |