- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Văn Q - Bùi Tường V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Q về việc xin ly hôn; cho anh Bùi Văn Q được ly hôn với chị Bùi Tường V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-12-2023 V/v tranh chấp Ly hôn giữa anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Cao Sơn.
Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Tấn và bà Bùi Thị Nhen.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 147/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/08/2023 về việc Tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1998. Địa chỉ: xóm T, xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Bị đơn: chị Bùi Tường V, sinh năm 2000. Địa chỉ: xóm T, xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là anh Bùi Văn Q trình bày: anh và chị Bùi Tường V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ngày 26/02/2019. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xung đột và không có tiếng nói chung nên tháng 9/2022 chị V đã bỏ đi để sống ly thân với anh Q. Quá trình sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Bùi Văn Q thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Bùi Tường V. Về con chung: anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V có 02 con chung là cháu Bùi Minh T, sinh ngày 22/10/2019 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 17/9/2021. Khi ly hôn anh Q xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và chưa có yêu cầu chị Bùi Tường V đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung với anh. Về tài sản chung, nợ chung: anh Bùi Văn Q khai là không có.
Về phía chị Bùi Tường V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ nơi cư trú của chị Bùi Tường V thể hiện chị Bùi Tường V có địa chỉ rõ ràng; có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ anh Bùi Văn Q đã cung cấp cho Tòa án nhưng thường xuyên vắng mặt tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không ở một địa chỉ ổn định nên không lấy được ý kiến của chị Bùi Tường V. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.
Kết quả Tòa án xác minh, thể hiện: anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V có mâu thuẫn, đã sống ly thân nhau; chị Bùi Tường V thường xuyên đi làm ăn xa không rõ tại đâu, thi thoảng mới về, không còn quan tâm đến chồng con. Về con chung, tài sản và nợ chung đúng như anh Bùi Văn Q đã khai.
Tại phiên tòa, anh Bùi Văn Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về ly hôn, quyền và nghĩa vụ nuôi con chung sau ly hôn.
Phía đại diện Viện kiểm sát nhận định về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn có địa chỉ cư trú rõ ràng, đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V có mâu thuẫn trầm trọng; không còn tình cảm vợ chồng; mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định cho ly hôn. Về con chung hiện các cháu Bùi Minh T và cháu Bùi Minh C đang sinh sống ổn định với anh Bùi Văn Q còn chị Bùi Tường V không có chỗ ở ổn định nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Văn Q về quyền và nghĩa vụ nuôi con sau ly hôn. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là chị Bùi Tường V không có mặt tại Tòa án mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị Bùi Tường V đúng như địa chỉ mà nguyên đơn đã cung cấp. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho chị Bùi Tường V. Do bị đơn đã được triệu hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất nhưng vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn là chị Bùi Tường V có nơi cư trú tại xóm T, xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm về độ tuổi cũng như những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống sau khi kết hôn giữa anh Q và chị V có xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn đã được xác minh thể hiện vợ chồng anh Q, chị V trong cuộc sống bất đồng với nhau về quan điểm, tính cách và lối sống, đã sống ly thân nhau; chị V bỏ đi làm ăn ở một nơi, không còn quan tâm gì đến chồng con, gia đình, bỏ mặc sống thế nào cùng được. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Văn Q là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và cần chấp nhận.
Về con chung: Xác nhận anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V có 02 con chung là cháu Bùi Minh T, sinh ngày 22/10/2019 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 17/9/2021. Khi ly hôn, anh Bùi Văn Q nhận trực tiếp nuôi con chung. Xét điều kiện nuôi con của cả hai bên thấy rằng: phía anh Q có công việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định còn phía chị V hiện thường xuyên không sinh sống tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không có chỗ ở ổn định. Thực tế việc nuôi con do anh Bùi Văn Q thực hiện và các con chung của anh Q, chị V đang sinh sống ổn định. Do vậy, vì quyền lợi mọi mặt của trẻ em, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Bùi Minh T và cháu Bùi Minh C cho anh Bùi Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng phía anh Bùi Văn Q chưa có yêu cầu chị Bùi Tường V đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là ý kiến tự nguyện của anh Bùi Văn Q và không ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh Q nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh Bùi Văn Q vẫn có quyền yêu cầu chị Bùi Tường V cấp dưỡng trong quá trình nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Bùi Tường V có quyền thăm nom con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Do anh Bùi Văn Q khai là không có và việc chị Bùi Tường V vắng mặt nên Tòa án không lấy được ý kiến của chị V nên không có cơ sở xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp về tài sản chung và có yêu cầu thì sẽ được xem xét bằng vụ việc khác.
Về nợ chung của vợ chồng: Xác định không có.
Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn Q về việc xin ly hôn; cho anh Bùi Văn Q được ly hôn với chị Bùi Tường V.
2. Về con chung: anh Bùi Văn Q và chị Bùi Tường V có 02 con chung là cháu Bùi Minh T, sinh ngày 22/10/2019 và cháu Bùi Minh C, sinh ngày 17/9/2021. Sau khi ly hôn, giao cả hai con chung là Bùi Minh T và Bùi Minh C cho anh Bùi Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bùi Tường V chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do anh Bùi Văn Q chưa có yêu cầu. Chị Bùi Tường V có quyền thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Chị Bùi Tường V không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Bùi Văn Q.
3. Về tài sản chung: Không xem xét.
4. Nợ chung của vợ chồng: Xác nhận không có.
5. Án phí: Anh Bùi Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004595 ngày 23/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn; anh Bùi Văn Q đã nộp xong án phí.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Cao Sơn |