vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Ý Nh được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ngh.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Như B, sinh ngày 20/9/2012 cho chị Trần Như Ý tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hữu Ngh không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhi - Nghị"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Ý Nh được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ngh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 – 4 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Bé Sáu

Ông Đỗ Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Ý Nh, sinh năm 1991 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Ngh, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp CB, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau

Người giám hộ của anh Ngh: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 (Có mặt)

Bà Trần Cẩm L, sinh năm 1965 (Có mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp CB, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 – 5– 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Ý Nh trình bày.

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu Ngh kết hôn vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2017 giữa chị và anh Ngh phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến chị và anh Ngh thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân mâu thuẫn do làm ăn thật bại, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong công việc làm ăn. Đến năm 2018 thì anh Ngh phát bệnh tâm thần, khi phát bệnh thì anh Ngh thường xuyên đánh chị, do đó chị không dám sống chung với anh Ngh nên đã sống ly thân với anh Ngh từ năm 2018 cho đến nay. Anh Ngh hiện tại vẫn chưa hết bệnh. Nay xét thấy đời sống vợ chồng giữa chị và anh Ngh không thể tiếp tục, hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ngh.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh Ngh có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Như B, sinh ngày 20/9/2012, hiện con đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn K và bà Trần Cẩm L là người giám hộ cho anh Nguyễn Hữu Ngh trình bày:

Ông, bà là cha mẹ ruột của anh Nguyễn Hữu Ngh, anh Ngh đã mắc bệnh tâm thần từ năm 2018 cho đến nay, gia đình đã đưa đi điều trị nhưng đến nay không khỏi. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nh thì ông, bà có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Vào năm 2011 gia đình hai bên có tổ chức đám cưới cho chị Trần Ý Nh và anh Nguyễn Hữu Ngh, sau đó anh Ngh và chị Nh đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn chị Nh và anh Ngh về sống chung với ông, bà được 03 năm thì chị Nh và anh Ngh lên Thành phố Hồ Chí Minh để làm, tuy nhiên do làm ăn thất bại nên chị Nh và anh Ngh phát sinh mâu thuẫn, do suy nghĩ nhiều nên anh Ngh mắc bệnh tâm thần. Chị Nh và anh Ngh đã không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay, vì anh Ngh phát bệnh thì đánh chị Nh nên chị Nh không thể sống chung với anh Ngh. Đối với yêu cầu ly hôn của chị Nh thì ông, bà đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa anh Ngh và chị Nh có 01 con chung tên Nguyễn Như B, sinh ngày 20/9/2012, hiện con đang sống với chị Nh. Ông, bà đồng ý để cháu Nguyễn Như B cho chị Nh tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ngh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh đối với anh Ngh. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Như B cho chị Nh tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ngh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nh phải chịu theo quy định của pháp luật.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Trần Ý Nh và anh Nguyễn Hữu Ngh là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Hữu Ngh có địa chỉ tại Ấp CB, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Ý Nh và anh Nguyễn Hữu Ngh kết hôn vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2011 ngày 29/11/2011. Do đó, hôn nhân của chị Nh và anh Ngh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn của chị Nh và anh Ngh thực sự có xảy ra trong thời gian dài nhưng không hàn gắn được, từ khi anh Ngh phát bệnh vào năm 2018 thì giữa chị Nh và anh Ngh đã không thể sống chung với nhau cho đến nay. Theo như bà L là mẹ của anh Ngh trình bày, khi anh Ngh phát bệnh thì đánh chị Nh nên chị Nh không thể sống chung với anh Ngh. Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị Nh và anh Ngh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Nh đối với anh Ngh là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

[3] Đối với con chung của chị Nh và anh Ngh là cháu Nguyễn Như B, sinh ngày 20/7/2012 tính đến ngày xét xử sơ thẩm đã trên 07 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hội đồng xét xử nhận thấy, người giám hộ của anh Ngh là bà Trần Cẩm L và ông Nguyễn Văn K đồng ý để cho chị Nh tiếp tục nuôi con vì anh Ngh hiện bị bệnh tâm thần không thể nuôi con được. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đối với cháu Bình thì cháu Bình trình bày nguyện vọng muốn được sống với mẹ là chị Trần Ý Nh. Đây là ý chí tự nguyện của cháu Bình và phù hợp với yêu cầu của chị Nh và bà L, ông K, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay cháu Bình do chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định về đời sống, chị Nh có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Nh, giao con chung tên Nguyễn Như B cho chị Nh tiếp tục nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị Nh không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nh phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Ý Nh được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Ngh.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Như B, sinh ngày 20/9/2012 cho chị Trần Như Ý tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hữu Ngh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Như Ý phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008129 ngày 18/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước chị Nh đã nộp đủ. Anh Nguyễn Hữu Ngh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai chị Trần Như Ý, anh Nguyễn Hữu Ngh, ông Nguyễn Văn K và bà Trần Cẩm L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ