vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị C đối với bị đơn ông Phạm Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B. Về nuôi con chung: giao cháu Phạm Trương Tuấn A, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 cho bà Trương Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Phạm Văn B không phải cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRƯƠNG THỊ C - PHẠM VĂN B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị C đối với bị đơn ông Phạm Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Thanh Hưng;

Ông Tô Tiến Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị C, sinh năm 1975; nơi thường trú: 159/52/34, Trần Văn Đ, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1974; nơi thường trú: 159/52/34, Trần Văn Đ, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B chung sống năm 2010, không tổ chức lễ cưới, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21 tháng 4 năm 2010. Hôn nhân tự nguyện.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà C yêu cầu được ly hôn ông B.

Về con chung: Bà C và ông B có 01 con chung tên Phạm Trương Tuấn A, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011. Chung con hiện sống với bà C, khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con.

Tại biên bản lấy lời khai con chung ngày 06 tháng 11 năm 2023, cháu Phạm Trương Tuấn A trình bày: cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà C không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, ông B không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc yêu cầu ly hôn của bà C và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông B.

Theo biên bản xác minh ngày 06 tháng 11 năm 2023, Công chức Tư pháp xã T, huyện B cung cấp như sau: Bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B là vợ chồng, có đăng kí tạm trú tại ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân như thế nào thì địa phương không có thông tin do bà C, ông B không nhờ địa phương hoặc tổ chức đoàn thể can thiệp giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Trương Thị C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Phạm Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 của BLTTDS. Việc xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 95 đến 98 của BLTTDS. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại các Điều 196, 196 của BLTTDS. Thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 của BLTTDS.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của BLTTDS.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà C và ông B đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân Phường X, Quận Y, thành phố Hồ Chí Minh đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên đơn bà C yêu cầu ly hôn với bị đơn ông B với lý do: vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp nhau và không còn tin tưởng nhau trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không còn yêu thương và chăm sóc lẫn nhau như lúc mới kết hôn. Hiện cả hai đang sống ly thân.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được biết: Bà C và ông B là vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương, bà C và ông B có phát sinh mâu thuẫn, sống không hạnh phúc. Xét thấy, nguyên đơn bà C và ông B phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, mục đích sống chung không có ý nghĩa. Nguyên đơn và bị đơn không có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Cả hai có một người con chung là cháu Phạm Trương Tuấn A, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011. Xét thấy, bà C có công việc ổn định và hiện nay cháu Tuấn A đang sinh sống ổn định với bà C, cháu Tuấn A có nguyện vọng sống chung với bà C. Do đó, giao con chung là cháu Tuấn A cho nguyên đơn trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên là chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Phạm Văn B có nơi cư trú tại ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trương Thị C khởi kiện ông Phạm Văn B, yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung do đó quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà Trương Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B là hôn nhân hợp pháp. Bà C yêu cầu ly hôn ông B do ông B thiếu trách nhiệm với gia đình, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau. Có cơ sở xác định ông B vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà C yêu cầu ly hôn với ông B là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B có 01 con chung là cháu Phạm Trương Tuấn A, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011. Con chung hiện đang chung sống với bà C, khi ly hôn bà C yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con. Cháu Tuấn A có nguyện vọng được sống với bà C. Xét, bà C có nơi ở, việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con, Hội đồng xét xử xét giao con chung cho bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về nội dung vụ án là phù hợp.

Về án phí: Bà Trương Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, khoản 1 Điều 59, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị C đối với bị đơn ông Phạm Văn B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B.

Về nuôi con chung: giao cháu Phạm Trương Tuấn A, sinh ngày 30 tháng 01 năm 2011 cho bà Trương Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Phạm Văn B không phải cấp dưỡng cho con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị C và ông Phạm Văn B không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trương Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010496 ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ