- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Mộng H.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST Ngày 26 – 5 – 2023. V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và bà Trần Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt -Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2023/TLST-HNGD, ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp P H, xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Chị Đặng Mộng H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp P H, xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.
(Anh T và chị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị anh Nguyễn Văn T trình bày như sau:
Anh T và chị H chung sống với nhau từ năm 2000, hôn nhân tự N, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, tuy nhiên anh chị không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc, hai bên thường xuyên cự cải bất hòa, hai bên đã hàn gắng nhiều lần để chung sống nhưng vẫn không dung hòa với nhau được, vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Anh T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với chị H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Công Ng, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh T không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bị đơn chị Đặng Mộng H trình bày: Chị H thống nhất với lời trình bày của anh T về thời gian chung sống, vợ chồng chị có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, theo yêu cầu của anh T thì chị H đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012, chị đồng ý giao cháu Công Ng cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ lại vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất với nhau các vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị H thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Anh T và chị H thống nhất xác định có 02 con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012. Anh T và chị H thống nhất giao cháu Công Ng (Theo N vọng cháu Công Ng) cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thanh. Anh T và chị H thống nhất thỏa thuận chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh T và chị H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Anh T và chị H đều vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các bên đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của anh T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Giao cháu Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012 (Theo N vọng cháu Công Ng) cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dụcc cho đến tuổi trưởng thành, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh T yêu cầu được ly hôn với chị H, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là các bên đều thống nhất chấm dứt quan hệ hôn và giải quyết vấn đề con chung nhưng do các đương sự không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Đối với anh T và chị H đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh T.
Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu ly hôn của anh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh T và chị H chung sống với nhau vào năm 2000, hôn nhân tự N, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân giữa anh chị là không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nay anh T và chị H đều thống nhất yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng, anh T và chị H cùng có nơi cư trú tại xã Đ T, huyện A B và đã cung cấp giấy xác nhận chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Mộng H.
Về con chung: Anh T và chị H thống nhất xác định có 02 con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002, hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết và Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012. Anh T và chị H thống nhất giao cháu Công Ng (Theo N vọng cháu Công Ng) cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Anh T và chị H thống nhất thỏa thuận chị H không phải cấp dưỡng nuôi con, chị H có quyền thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung: Anh T và chị H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Anh T và chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận, nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Mộng H.
2. Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Chí N, sinh ngày 09/02/2002, hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; Giao cháu Nguyễn Đặng Công Ng, sinh ngày 31/8/2012 (Theo N vọng cháu Công Ng) cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Anh T và chị H thống nhất thỏa thuận chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản. Tuy nhiên, chị H không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Anh T và chị H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
4. Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Anh T và chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004029 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy anh Nguyễn Văn T đã nộp xong án phí.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự N thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS huyện An Biên; - VKSND huyện An Biên; - Các đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn (V). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu Thị Gấm |