vanban.org

Bản án 59/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Viết T 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17-01-2022. Án phí: Buộc bị cáo Lưu Viết T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Viết Tốt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HSST
Ngày 27 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lành Văn Khánh;

Bà Nguyễn Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - KiÓm s¸t viªn.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:

Lưu Viết T, sinh ngày 14 tháng 01 năm 1996 tại xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Ký Nvà bà Liễu Thị S; vợ: Chưa có, chung sống như vợ chồng với chị Nông Thị Ng (chưa đăng ký kết hôn). Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019 và con nhỏ sinh năm 2021 (đều chưa đăng ký khai sinh); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý k luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-01-2022, tạm giam từ ngày 20-01-2022 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Chu Minh K, sinh ngày 10/02/2006. Người đại diện của anh Chu Minh K: Bà Hoàng Thị V; cùng địa chỉ: Thôn T2, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Phạm Đức C, sinh năm 1973; địa chỉ: Số *, đường N, phường T3, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

2. Chị Nông Thị Z; địa chỉ: Thôn Đồng Én, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15-01-2022, Công an xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn tiếp nhận tố giác của anh Chu Minh K (sinh năm 2006, trú tại thôn Tân Tiến, xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) về việc sáng ngày 15-01-2022, tại Nhà văn hóa xã Hoàng Đồng thuộc thôn Đồng Én, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, anh Chu Minh K bị trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu đen, đã qua sử dụng.

Qua xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định nam thanh niên thực hiện hành vi trộm cắp trên là bị cáo Lưu Viết T, đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của bị cáo Lưu Viết T thu giữ: 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên Chu Minh K; 01 căn cước công dân số 020206006877 mang tên Chu Minh K, 01 phiếu bảo hành của cửa hàng điện thoại Thành Công ngày 15-01-2022 và 01 sim điện thoại, để phục vụ quá trình điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 17-01-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Lạng Sơn, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu đen, số IMEI 1: 869150051074436, số IMEI 2: 869150051074428, máy đã qua sử dụng có giá 2.200.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại chất liệu nhựa dẻo trong suốt trị giá 10.000 đồng. Tổng giá trị là 2.210.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Viết T khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15-01-2022, Lưu Viết T đến sân bóng đá tại Nhà văn hóa xã Hoàng Đồng thuộc thôn Đ, xã H, thành phố L để xem đá bóng. Khi đến sân của Nhà văn hóa, cách sân bóng khoảng 05 - 07m, Lưu Viết T nhìn thấy trên hiên của nhà văn hóa có nhiều túi để đồ, trong đó có một chiếc túi màu đỏ không kéo khóa, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động. Do đang cần tiền tiêu sài cá nhân, Lưu Viết T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại di động này. Quan sát xung quanh không thấy ai chú ý nên Lưu Viết T đã đi đến, ngồi xuống bên cạnh chiếc túi màu đỏ rồi dùng tay trái thò vào trong túi lấy chiếc điện thoại di động, cất vào trong túi quần đang mặc và rời khỏi khu vực Nhà văn hóa. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, Lưu Viết T tháo ốp lưng điện thoại thì thấy có chứng minh thư nhân dân và thẻ ngân hàng mang tên Chu Minh K, Lưu Viết T đã bỏ ra ngoài và tháo sim điện thoại ra. Lưu Viết T đi đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Thành Công tại số 151 đường Trần Đăng Ninh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn của Phạm Đức C để cầm cố chiếc điện thoại trên với giá 600.000 đồng. Số tiền này Lưu Viết T đã chi tiêu cá nhân hết. Những đồ vật còn lại Lưu Viết T mang về cất giấu tại nhà.

Ngày 17-01-2022, anh Phạm Đức C đã giao nộp 01 chiếc điện thoại và trình bày đây là chiếc điện thoại đã nhận cầm cố với bị cáo Lưu Viết T với số tiền 600.000 đồng. Anh Phạm Đức C trước đó không quen, không có mâu thuẫn gì với bị cáo và không biết chiếc điện thoại di động mà bị cáo Lưu Viết T mang đi cầm cố là tài sản do phạm tội mà có.

Tại Biên bản xét nghiệm ma túy ngày 17-01-2022, của Cơ quan điều tra đã xác định Lưu Viết T dương tính với ma túy Heroine.

Về phần trách nhiệm dân sự: Ngày 20-01-2022, chị Nông Thị Z đã trả thay bị cáo cho anh Phạm Đức C số tiền 600.000 đồng là tiền bị cáo Lưu Viết T đã nhận khi cầm cố chiếc điện thoại trên. Anh Chu Minh K và anh Phạm Đức C không yêu cầu Lưu Viết T bồi thường gì, chị Nông Thị Z không yêu cầu bị cáo trả lại tiền.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS, ngày 28-4-2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lưu Viết T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như bản Cáo trạng nêu, mục đích bán tài sản trộm cắp được có tiền tiêu sài cho bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát đánh giá đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội như Cáo trạng truy tố, nên giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Phần thủ tục tranh luận, bị cáo Lưu Viết T nhất trí với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và không có lời bào chữa.

Đại diện Viện kiểm sát không tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết hành vi trộm cắp tài sản là sai phạm, bị cáo mong được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người giám hộ của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. Bị hại, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều .

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ ngày 15-01-2022, tại Nhà văn hóa xã H thuộc thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Lưu Viết T đã có hành vi trộm cắp của anh Chu Minh K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen, đã qua sử dụng có gắn kèm 01 ốp điện thoại, tổng giá trị tài sản là 2.210.000 đồng.

[3] Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, thiếu tu dưỡng bản thân, thể hiện người có nhân thân không tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; chị Nông Thị Z giúp bị cáo bồi thường cho anh Phạm Đức C 600.000 đồng, nhưng bị cáo không tác động bồi thường, nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả" theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt như trên, thấy cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh tại Biên bản xác minh ngày 02-3-2022 xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và tài sản riêng, là người nghiện chất ma túy, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[10] Về vật chứng vụ án: Ngày 19-01-2022, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu đen, số IMEI 1: 869150051074436, số IMEI 2: 869150051074428, máy đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại chất liệu nhựa dẻo trong suốt; 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên Chu Minh K; 01 căn cước công dân số 020206006877 mang tên Chu Minh K và 01 sim điện thoại; việc trả lại tài sản là đúng quy định.

[11] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[12] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[14] Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Viết T 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 17-01-2022.

3. Án phí: Buộc bị cáo Lưu Viết T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ