- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; luật hình sự xử dưới khung hình phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/HSST Ngày: 24/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Lương Anh Xuân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Quang Hòa.
Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Phan Anh Tài - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Thái Văn D - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/05/1992; Nơi cư trú: xóm Nam Th, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Thái Văn N – sinh năm 1959; con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Phan Thị H – sinh năm 1995; con: có 01 con, mới sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Thái Văn Ch – Sinh năm 1985. Có mặt.
Trú tại: xóm Nam Th, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1989. Vắng mặt.
Trú tại: xóm Nam K, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài nên Thái Văn D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà anh trai là Thái Văn Ch ở cùng xóm. Vào khoảng 15 giờ ngày 15/7/2022, D đi xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu đỏ, biển kiểm soát: 37G1-612.;; đến nhà anh trai là Thái Văn Ch tại xóm Nam Th, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ để trộm tiền. Khi đến nhà anh Ch thì D thấy không có ai ở nhà, cửa nhà khóa hết nên D đi mua một cưa sắt tại cửa hàng tạp hóa chị Nguyễn Thị H về để cưa hai song cửa sổ nhà anh Ch. Cưa xong, D đột nhập vào nhà anh Ch đến tủ quần áo trong phòng ngủ của con anh Ch và mở cánh tủ ra thì thấy trong đó có nhiều tập tiền gồm mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng và 500.000 đồng. D lấy toàn bộ số tiền trong tủ quần áo và cất dấu trong người, sau đó quay ra bằng cửa sổ đã cắt rồi đi xuống xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ để vứt chiếc cưa sắt tại khu vực cầu Sông L thuộc xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ. Sau đó, D về nhà lấy ra số tiền đã trộm được 20.000.000 đồng để tiêu sài cá nhân, số tiền còn lại là 266.500.000 đồng D cất dấu trên gác nhà mình. Đến ngày 18/7/2022, D nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền trộm cắp còn lại là 266.500.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 276 ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luật: Số tiền 266.500.000 đồng gửi tới giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 64/CT-VKSNgĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Thái Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, 54 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Thái Văn D từ 36 đến 42 tháng tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm; về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bị hại trình bày: Vào chiều ngày 15/7/2022 gia đình anh bị kẻ gian đột nhập vào nhà lấy trộm trong tủ quần áo số tiền 286.500.000 đồng, sau đó trình báo công an thì biết được Thái Văn D là em trai ruột đã đột nhập vào nhà lấy trộm và đến nay bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền trộm cắp cho gia đình tôi. Nay anh Ch không yêu cầu bị cáo bổi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nữa và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình chăm sóc bố già và vợ con nhỏ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng xã hội để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định được vào lúc 15 giờ ngày 15/7/2022, Thái Văn D đi đến nhà anh trai là Thái Văn Ch tại xóm Nam Th, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đ thì thấy không có ai ở nhà, cửa nhà khóa nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài cá nhân nên D lén lút dùng cưa sắt, cưa hai song cửa sổ nhà anh Ch để đột nhập vào trong nhà, đi đến tủ quần áo trong phòng ngủ của con anh Ch và mở cửa tủ ra thì thấy trong tủ có nhiều tập tiền gồm mệnh giá 100.000 đồng, 200.000 đồng và 500.000 đồng nên D lấy toàn bộ số tiền trong tủ quần áo cất dấu vào trong người đem về nhà đếm được 286.500.000 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), D lấy 20.000.000 đồng để tiêu sài cá nhân, số tiền còn lại là 266.500.000 đồng D cất dấu trên gác nhà. Đến ngày 18/7/2022, D nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số 266.500.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Thái Văn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra bị cáo đã trả lại cho người bị hại số tiền bị cáo lấy trộm để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và trong quá trình điều tra bị cáo ra đầu thú, bị cáo có bố là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương khánh chiến là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Xét thấy bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do muốn có tiền chơi bời và tiêu xài cho bản thân nên đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền trộm cắp đã tự nguyện trả lại cho người bị hại. Mặt khác, bị cáo và người bị hại có quan hệ anh em ruột, người bị hại trình bày bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ mới sinh, bị cáo ở với bố để chăm sóc, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng điều 54 bộ luật hình sự xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có cho xã hội và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về khấu trừ thu nhập, phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 54 và điều 38 - Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Thái Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Thái Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18/7/2022.
Về án phí: Áp dụng điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thái Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người bị hại; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Nghĩa Đàn; - Công an huyện Nghĩa Đàn; - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn; - Thông báo cho UBND cấp xã nơi b/c cư bị cáo cư trú được biết; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Quang Hòa Nguyễn Thị Thanh | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Anh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Anh Xuân |