vanban.org

Bản án 59/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Kim L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh L’.

Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Lâm Gia P, sinh ngày 05/9/2015; Nguyễn Lâm Gia Ph, sinh ngày 30/8/2017 cho chị Lâm Kim L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh L’ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 cháu P và Ph mỗi cháu 1.000.000đ/tháng (02 cháu 2.000.000đ/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Kim L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh L’.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HNGĐ-ST
Ngày 01 – 4 – 2022
Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Đoàn Thị Bẩy.

- Bà Trương Ánh Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 01 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Kim L, sinh năm 1989 (có mặt);

Địa chỉ: đường Tr, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh L’, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: đường P, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 01/12/2021 và quá trình giải quyết vụ án, chị Lâm Kim L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh L’ chung sống vợ chồng vào năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh L’ thường xuyên rượu chè, ghen tuông mù quáng, không lo cho gia đình, không trách nhiệm với con, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L’.

Về con chung: Chị xác định có 02 người con tên Nguyễn Lâm Gia P, sinh ngày 05/9/2015; Nguyễn Lâm Gia Ph, sinh ngày 30/8/2017, hiện 02 cháu đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, yêu cầu anh L’ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 2.000.000đ.

Về tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và cũng không ai nợ lại anh, chị.

- Đối với anh Nguyễn Minh L’, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh L’ vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Minh L’ đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Lâm Kim L và anh Nguyễn Minh L’ chung sống vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau vào ngày 05/3/2015 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống theo chị L xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh L’ thường xuyên đi nhậu, ghen tuông vô cớ, không lo cho gia đình, không trách nhiệm với con, mục đích hôn nhân không đạt được và đã ly thân từ tháng 5/2021. Nay chị L xác định tình cảm không còn và yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn. Đối với anh L’ không đến Tòa án tham gia phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị L xin ly hôn. Xét thấy: Đời sống hôn nhân của anh, chị đã thực sự không còn, mâu thuẫn là có xảy ra, anh L’ không có biện pháp hàn gắng vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị được ly hôn anh L’.

Về con chung: Anh chị có 02 người con tên Nguyễn Lâm Gia P, sinh ngày 05/9/2015; Nguyễn Lâm Gia Ph, sinh ngày 30/8/2017, hiện 02 cháu đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. Đối với anh L’ không trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện 02 cháu P và Ph đang sống với chị L và tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt nên Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 cháu P và Ph cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L’ không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh L’ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 2.000.000đ, anh L’ không trình bày ý kiến về việc chị L yêu cầu mức cấp dưỡng. Xét thấy, cấp dưỡng nuôi con là trách nhiệm của cha mẹ, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng nên mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con với số tiền 1.000.000đ/tháng/cháu theo yêu cầu chị L là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần buộc anh L’ cấp dưỡng nuôi 02 cháu P và Ph mỗi cháu 1.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

Về nợ chung: Chị L khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra giải quyết.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83,116 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Kim L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh L’.

- Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Lâm Gia P, sinh ngày 05/9/2015; Nguyễn Lâm Gia Ph, sinh ngày 30/8/2017 cho chị Lâm Kim L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh L’ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 cháu P và Ph mỗi cháu 1.000.000đ/tháng (02 cháu 2.000.000đ/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật, cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh L’ không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Anh L’ được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Lâm Kim L phải chịu 300.000đ. Ngày 20 tháng 01 năm 2022, chị L đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0000825 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

+ Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Minh L’ phải nộp 300.000đ (Chưa nộp).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ