- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Cẩm T - Nguyễn Thành A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T;
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/HNGĐ - ST Ngày: 26 – 8 – 2022 V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kim Xuyến
2. Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2021/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 3 năm 2022 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 580/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 610/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 1999
Hộ khẩu thường trú: Ấp 5, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1991
Địa chỉ: Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2021 và các lời trình bày có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thành A tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 29/11/2018. Sau khi kết hôn, bà và ông A chung sống tại ấp 5, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Từ khoản tháng 5/2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thiếu hụt tài chính, ông A không lo lắng, chăm sóc vợ con. Từ tháng 02/2021 đến nay ông bà sống ly thân nhau, ông A bỏ về nhà cha mẹ của ông ở Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Do mâu thuẫn đã trầm trọng, chung sống với nhau không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành A.
Về con chung: Bà T khai có 01 con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/5/2019. Hiện nay cháu P đang ở cùng bà và gia đình bên ngoại. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cũng như triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Thành A nhưng ông A không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai thể hiện:
Ông Nguyễn Thành A đăng ký thường trú tại: Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Ông A chung sống với bà Huỳnh Thị Cẩm T, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 29/11/2018. Việc ông A và Bà T có mâu thuẫn gì với nhau trong quá trình chung sống tại địa phương hay không thì tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai không nắm rõ.
Ông A và Bà T có 01 con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/5/2019. Về thu nhập cá nhân cũng như điều kiện nuôi con của ông A, Bà T thì địa phương không nắm rõ.
Về tài sản chung, nợ chung của ông A và bà Huỳnh Thị Cẩm T: Địa phương không nắm rõ, không có ai trình báo hay yêu cầu giải quyết các vấn đề về tài sản chung, nợ chung của ông A, Bà T.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thể hiện:
Ông Nguyễn Thành A đăng ký thường trú tại: Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai và hiện đang cư trú, sinh sống tại địa phương. Về tài sản chung, nợ chung của ông A và bà Huỳnh Thị Cẩm T: Địa phương không nắm rõ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý, thu thập chứng cứ, hòa giải, xác định tư cách tố tụng của đương sự, việc tuân theo pháp luật của đương sự và của hội đồng xét xử đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên kiến nghị vi phạm này.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà T, cho Bà T ly hôn ông A.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà T về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/5/2019 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Ông Nguyễn Thành A phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Thành A và giải quyết các vấn đề về nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Theo Biên bản xác minh tại ngày 20/5/2022 thể hiện: Bị đơn – ông Nguyễn Thành A, có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai và hiện nay đang cư trú, sinh sống tại địa chỉ nêu trên.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về tư cách đương sự:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Cẩm T; Bị đơn là ông Nguyễn Thành A.
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa (nguyên đơn có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do). Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Cẩm T và ông Nguyễn Thành A tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 29/11/2018.
Căn cứ các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, xác định hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Cẩm T và ông Nguyễn Thành A là hợp pháp.
Bà T và ông A sống ly thân nhau đã lâu, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông A để làm việc, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông A vẫn vắng mặt thể hiện ông không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ.
Từ những căn cứ trên, xét thấy mâu thuẫn giữa Bà T và ông A là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của Bà T là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T về việc “Ly hôn” đối với bị đơn ông Nguyễn Thành A.
. Về con chung: Bà T và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/5/2019. Khi ly hôn, Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo yêu cầu giao nộp chứng cứ; Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho ông Nguyễn Thành A nhưng ông không đến Tòa án trình bày ý kiến, không có yêu cầu tranh chấp về việc nuôi con chung. Hiện nay con chung đang được Bà T trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
. Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
. Xét quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 217, 220, 228, 266, 267 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm T;
Xử: Bà Huỳnh Thị Cẩm T được ly hôn ông Nguyễn Thành A.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “ Tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn.
Giao cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 13/5/2019 cho bà Huỳnh Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm thời ông Nguyễn Thành A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Thành A được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, Bà T, ông A có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
4. Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
5. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001421 ngày 15/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
7. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - TA tỉnh ĐN; - VKS, THA cùng cấp; - Các đương sự; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Hiệp |