vanban.org

Bản án 59/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 59/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/4/2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm T.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm;

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2022/TLST-

HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

95/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên

tòa số 93/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp T, thị

trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Đức P, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm T trình bày, do tự tìm hiểu nhau, bà T và

ông P kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn

Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vào ngày 11/7/2012. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Lê Nguyễn Đan Q, sinh ngày 07/10/2012. Hiện tại, con chung đang được bà T nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống, bà T, ông P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn,

cãi vã do bất đồng quan điểm, bất đồng quan điểm, thường xuyên mẫu thuẫn về kinh tế. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 01 năm nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông

P; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Đan Q, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số TT: 78/2012, quyển số 02, ngày 11/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Diễm T, ông Lê Đức P (bản sao); giấy khai sinh số TT: 333/2012, quyển số 02, ngày 21/11/2012 do Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho Lê Nguyễn Đan Q (bản sao).

- Bị đơn ông Lê Đức P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng

mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà T và ông P kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ đó cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông P. Bà

T, ông P không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Quỳnh cho

bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi

con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P; bà T

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông P không phải cấp dưỡng

nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Diễm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Đức P. Đồng

thời, ông P cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn

nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lê Đức P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng

mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại

khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà T và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của

pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hợp pháp, được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ.

Bà T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu

thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp và không còn sống

chung từ năm 2021 cho đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà T và ông

P thường xuyên cãi vả và không còn sống chung từ năm 2021 đến nay. Vợ

chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp

lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông P nhưng ông P không có ý kiến phản đối yêu

cầu ly hôn của bà T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T, ông P là

trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P

theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh 01 con chung tên Lê Nguyễn Đan Q, sinh ngày 07/10/2012.

Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển n

định và có ý kiến trình bày có nguyện vọng sinh sống cùng mẹ (Thúy) sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo n định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Quỳnh phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Quỳnh cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng

nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n c các i u

uật H n nhân và ia đình n m

; các i u

Bộ luật T tụng dân s n m

; đi m a khoản

i u Nghị quyết

BT H ngày tháng n m

của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Diễm T.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với ông Lê Đức P.

Giấy chứng nhận kết hôn số TT: 78/2012, quyển số 02, ngày 11/7/2012

do Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Diễm T, và ông Lê Đức P không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Diễm T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê

Nguyễn Đan Q, sinh ngày 07/10/2012. Ông Lê Đức P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn Thị Diễm T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được

cản trở ông Lê Đức P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm

ba tr m nghìn đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí

ba tr m nghìn đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010082

do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21

tháng 01 năm 2022; bà Nguyễn Thị Diễm T đã nộp đủ án phí.

Ông Lê Đức P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Diễm T có

quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lê Đức P được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp bản án quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại i u

uật Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s ng ời phải thi hành

án dân s có quy n thoả thuận thi hành án quy n yêu cầu thi hành án t

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u

7 và 9 uật thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy

định tại i u

uật thi hành án dân s

Cỡ chữ