vanban.org

Bản án 59/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H1. Về con chung: Giao con chung Dương Huỳnh Bảo N (nam), sinh ngày 11/7/2012 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông H1 không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hiên huy"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hoa Lài

2. Ông Nguyễn Kim Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Dung – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tưởng – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2023/TL.ST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/QĐST – HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà H, sinh năm 1980

Địa chỉ: Ấp 6, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Ông H1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Ấp 6, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà H trình bày: Bà và ông H1 tiến đến hôn nhân năm 1995, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2011. Quá trình chung sống hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không còn tình cảm nên cả hai không tìm được tiếng nói chung, khiến hôn nhân rơi vào trầm trọng, không còn hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân. Nay, nhận thấy hôn nhân không đạt được nên làm đơn được ly hôn với ông H1.

Về con chung: Có 03 con chung Dương Huỳnh Tôn B (nam), sinh năm 1997 Dương Bảo T, sinh năm 2003 và Dương Huỳnh Bảo N, sinh ngày 11/7/2012. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu nuôi cháu N, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng hai cháu B và T đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án ông H1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung giải quyết vụ án: Về hôn nhân bàH và ôngH1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân hợp pháp, quá trình chúng sống hai bên phát sinh mâu thuẫn, cả hai đã ly thân, nay bàH yêu cầu ly hôn với ôngH1, ôngH1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến về việc ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bàH. Về con chung, bàH và ôngH1 có 03 con chung Dương Huỳnh Tôn Bảo (nam), sinh năm 1997 Dương Bảo Thanh, sinh năm 2003 và Dương Huỳnh Bảo Nhân, sinh ngày 11/7/2012. Từ khi ly thân đến nay cháu Nhân đang sống chung với bàH, bàH yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và cháu Nhân cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ nên nhằm ổn định cuộc sống cho cháu Nhân nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bàH. Về cấp dưỡng nuôi con chung: BàH chưa yêu cầu nên ôngH1 chưa phải cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: BàH khai không có, ôngH1 chưa ghi nhận được ý kiến nên chưa xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Bà H và ông H1 do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên bàH nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H1, do ôngH1 có nơi cư trú tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà H có đơn xin vắng mặt, bị đơn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Giữa bà H và ông H1 được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống bàH cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không còn tình cảm nên hôn nhân không còn hạnh phúc và đã ly thân. Từ khi ly thân đến nay bàH và ôngH1 không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng, khi bàH nộp đơn khởi kiện đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành mời các bên hòa giải để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng phía ôngH1 vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Vì vậy, nhận thấy hôn nhân của ông, bà đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H

Về con chung: Có 03 con chung Dương Huỳnh Tôn B (nam), sinh năm 1997 Dương Bảo T, sinh năm 2003 và Dương Huỳnh Bảo N, sinh ngày 11/7/2012. Từ khi ly thân đến nay con chung đang sống chung với bàH, bàH yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và cháu N có nguyện vọng sống cùng mẹ nên nhằm ổn định cuộc sống cho cháu Nhân, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nhân cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng. Riêng cháu Bảo, cháu T đã trưởng thành không đặt vấn đề giải quyết. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông H1 không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: BàH chưa yêu cầu nên ông H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: BàH khai không có, ôngH1 chưa ghi nhận được ý kiến nên chưa xem xét giải quyết 02 vấn đề này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H1.

2. Về con chung: Giao con chung Dương Huỳnh Bảo N (nam), sinh ngày 11/7/2012 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông H1 không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông H1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bàH đã nộp theo biên lai số 0012373 ngày 17/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (bàH đã nộp xong).

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại nơi cư trú.

7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ