- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59 /2022/DS-ST Ngày: 29-12-2022 V/v Tranh chấp hợp đồng vay |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Bà Phạm Thị Kim Thảo
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quang – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2022/TLST- DS ngày 5 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trụ sở: 1502, Trần Hưng Đ, phường Mỹ P, Thành phốL, An Giang
Người đại diện: ông Nguyễn Hiền Sĩ– Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P.
Ông Nguyễn Hiền Sĩ uỷ quyền lại cho ông Nguyễn Minh Trí – Chức vụ: Cán bộ Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P theo văn bản uỷ quyền lập ngày 3/6/2022.
-Bị đơn: Ông Nguyễn Huy T, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm: 1976 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khóm H, thị trấn A, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 3/6/2022 và lời khai tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H có đến Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 1051/05/21/HĐTD ngày 17/5/2021 với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất vay là 15,21%/năm, lãi quá hạn là 22,815%/năm. Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 17/5/2021 đến ngày 17/5/2022. Khi vay ông T, bà Huê có thế chấp cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P 01 tài sản là 01 quyền sử dụng đất số phát hành: BA 836045, số vào sổ: CH08439, nơi cấp UBND huyện Châu Thành cấp ngày 4/5/2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H, diện tích 68m2 địa chỉ: Ấp Hòa A, xã Cần Đăng, Châu Thành, An Giang, theo hợp đồng thế chấp số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021. Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H đã đóng lãi đến hết ngày 29/6/2021 với số tiền 358.400 đồng và từ đó chưa nộp. Nay ông bà đã vi phạm Hợp đồng trong việc thanh toán nợ cụ thể đã quá hạn định kỳ ngày 30/6/2021.
Nay Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H trả số tiền gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 29/12/2022 tổng cộng là 28.315.300đ (Hai mươi tám triệu ba trăm mười lăm ngàn ba trăm đồng) (trong đó vốn là 20.000.000 đồng, lãi là 8.315.300 đồng) và tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1051/05/21/HĐTD ngày 17/5/2021 trên phần nợ vốn là 20.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021 để đảm bảo trong giai đoạn thi hành án.
-Đối với bị đơn ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải. Tòa án tiến hành xác minh sự vắng mặt của ông T, bà Huê tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H vẫn còn hộ khẩu cư ngụ tại Khóm Hòa Long 4, thị trấn An Châu, Châu Thành, An Giang nhưng ông T, bà H vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai lại được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H vẫn vắng mặt không lý do. Còn Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P và ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H theo quy định pháp luật.
[2]Về nội dung tranh chấp:
Hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P với ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H thực tế đã có phát sinh. Sự việc được chứng minh qua hợp đồng tín dụng số 1051/05/21/HĐTD ngày 17/5/2021, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021. Xét về hình thức và nội dung đều không trái đạo đức và pháp luật nên điều chỉnh khi phát sinh tranh chấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông T, bà Huê chỉ đóng lãi đến hết ngày 29/6/2021 số tiền 358.400 đồng và từ đó chưa trả vốn và lãi cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P như đã cam kết, việc làm này đã vi phạm hợp đồng tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông T, bà Huê vẫn không thanh toán. Tại đơn khởi kiện cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt đại diện Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P giữ nguyên yêu cầu là buộc ông T, bà Huê có trách nhiệm trả số tiền vốn và lãi đến ngày 29/12/2022 là 28.315.300 đồng, trong đó nợ gốc là 20.000.000đ và lãi phát sinh đến ngày 29/12/2022 là 8.315.300 đồng và tiếp tục trả phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi Trường, bà Huê trả hết nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P. Xét về mối quan hệ tranh chấp trên thì phía bị đơn là người có lỗi, không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là phải nộp lãi và trả vốn đúng theo hợp đồng, việc vi phạm này của bị đơn đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phía nguyên đơn. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ số tiền vốn lãi là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy buộc ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P số tiền 28.315.300đ (Hai mươi tám triệu ba trăm mười lăm ngàn ba trăm đồng) và phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc là 20.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 1051/05/21/HĐTD ngày 17/5/2021 kể từ ngày 30/12/2022 cho đến khi thi hành án xong.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021 thì khi giao kết hợp đồng ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H đều hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, có chữ ký của ông T, bà Huê, có đơn yêu cầu đăng ký thế chấp và đều có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy khi buộc ông T, bà Huê phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P nhận số tiền 28.315.300đ (Hai mươi tám triệu ba trăm mười lăm ngàn ba trăm đồng) đồng thì cần phải tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật nếu ông T, bà Huê tự nguyện thi hành án, không phải phát mãi tài sản thì Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P phải trả lại tất cả các loại giấy tờ đã thế chấp cho ông T, bà Huê. Nếu ông T, bà Huê không tự nguyện thi hành án thì Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021 để thi hành án.
[3]Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P được nhận lại số tiền 625.000 (Sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003789 ngày 05 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
+Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu 1.416.000 đồng( Một triệu bốn trăm mười sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 235, 244, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P
2.Buộc ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P tổng cộng vốn +lãi tính đến ngày 29/12/2022 với số tiền 28.315.300 đồng (hai mươi tám triệu ba trăm mười lăm ngàn ba trăm đồng) đồng và phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc là 20.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số 1051/05/21/HĐTD ngày 17/5/2021 kể từ ngày 30/12/2022 cho đến khi thi hành án xong.
3.Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/2021 của Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P với ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu để đảm bảo cho việc thi hành án gồm tài sản là quyền sử dụng đất số phát hành: BA 836045, số vào sổ: CH08439, nơi cấp UBND huyện Châu Thành cấp ngày 4/5/2010 cho ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H, diện tích 68m2 địa chỉ: Ấp Hòa A, xã Cần Đăng, Châu Thành, An Giang.
4. Sau khi án có hiệu lực pháp luật nếu ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H tự nguyện thi hành án, không phải phát mãi tài sản thì Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P phải trả lại tất cả các loại giấy tờ đã thế chấp cho ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H. Nếu ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H không tự nguyện thi hành án thì Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1051/05/21/HĐTC ngày 17/5/20 để thi hành án.
5.Về án phí dân sự sơ thẩm: Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P được nhận lại số tiền 625.000 (Sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003789 ngày 05 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
+Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H phải chịu 1.416.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6.Về kháng cáo: Quỹ tín dụng nhân dân Mỹ P và Ông Nguyễn Huy T và bà Nguyễn Thị Diệu H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
7.Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:
| - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); - TAND tỉnh; -VKSND huyện Châu Thành; -Chi cục THA.DS huyện; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |