- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đào Nhựt N, Lê Bá H, Lê Văn D, Nguyễn Văn Bé HA, Nguyễn Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2021/HSST Ngày: 02-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Dũng;
2. Ồng Nguyễn Đình Đoan Hùng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Đào Nhựt N, sinh ngày 29/10/2000, tại Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 1, ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Nguyễn Văn T; mẹ: Nguyễn Thị Thu V; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Trúc M nhưng hiện nay My đã bỏ đi; có 01 người con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Nguyễn Minh T, sinh năm 1994, tại Đồng Tháp; Hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 7, ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Nguyễn Văn T; mẹ: Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố cao Lãnh áp dụng biện pháp điều trị nghiện bắt buộc 13 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp, chấp hành xong 5/2020; ngày 19/8/2020, bị Công an xã Tịnh Thới xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành nộp phạt; ngày 28/8/2020, bị Chủ tịch UBND xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng; Nhân thân: Ngày 28/10/2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh khởi tố về tội „Trộm cắp tài sản”. Bị cáo hiện đang bị Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
3. Lê Bá H, sinh ngày 04/9/2002, tại Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú: Tổ 11, ấp TC, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; ch ở: Ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; tình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Lê Bá H; mẹ: Nguyễn Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Lê Văn D, sinh ngày 24/4/2002, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: Thảo Em; hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 11, ấp TC, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Lê Văn H; mẹ: Lương Thị E; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
5. Nguyễn Văn Bé HA, sinh ngày 22/4/2002, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: HA Nhỏ; hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 14, ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Nguyễn Văn Bé N; mẹ: Nguyễn Thị Thu H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 23/9/2000, tại Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 1, ấp TM, xã TT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Nguyễn Văn B; mẹ: Lê Thị Cẩm T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tất các các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn D: Bà Lê Hồng D, trợ giúp viên pháp lý của Trung T trợ giúp pháp lý tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
- Người bị hại: Trịnh Văn Kh, sinh năm 2000, HKTT: ấp PT, xã PT, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Văn Mười B, sinh năm 1963, địa chỉ: Tổ A, Khóm B, Phường C, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
1/ Phạm Duy Kh, sinh năm 2000, địa chỉ: ấp PT, xã PT, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp (Vắng mặt).
2/ Lê Phi HU, sinh năm 1999, địa chỉ: Tổ 37, xã TL, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
3/ Phạm Ngọc Gi, sinh năm 1994, địa chỉ: Tổ H, Khóm G, Phường L, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/8/2020, Nguyễn Minh T (T Dơi) cùng Đào Nhựt N, Lê Bá H (Hỷ), Lê Văn D (Thảo Em), Nguyễn Văn Bé HA (HA Nhỏ), Nguyễn Tuấn K và em ruột của D là Lê Văn Đ sinh ngày 15/3/2007 uống rượu tại quán MB, trên vỉa hè phía trước khu nhà ở sinh viên của trường Đại học Đồng Tháp thuộc Tổ 8, Khóm 2, Phường 6, thành phố Cao Lãnh. Trong lúc uống rượu thì N nhìn qua bàn đối diện bên kia đường thấy Trịnh Văn Kh đang ngồi uống bia với nhóm bạn nên nói với T “Người mặc áo đỏ bàn đối diện trước đây đánh anh đó, nhớ không?”, T trả lời “Để chút tao qua hỏi thử phải không”, cả nhóm nghe nhưng im lặng và tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi chuẩn bị ra về thì có một nhóm thanh niên lạ mặt chạy ngang rủ nhóm của T đánh nhau nên T dùng xe mô tô của K chở D và H đuổi theo nhưng không kịp nên T dừng xe lại. D xuống xe nhặt thanh g vuông kích thước 03cm x 05cm x 90cm, trọng lượng 1,4kg cầm trên tay rồi lên xe cho T chở quay về quán Mười Ba. Gần tới quán, H bảo D đưa thanh g D đang cầm cho H, D đồng ý. Khi T dừng xe gần bàn của Kh, D xuống xe đi nhổ thanh g vuông kích thước 03cm x 05cm x 140cm, trọng lượng 1,6kg trên vỉa hè (loại cây chóng đỡ cây xanh) rồi cùng T và H tiến đến bàn Kh đang ngồi, cùng lúc này HA cầm thanh kim loại, hai đầu dẹp (thanh chéo giàn giáo) dài 2,2m, trọng lượng 1,3kg, nhặt ở gần đó còn N và K không cầm hung khí cũng cùng đi sang. T đi từ phía sau, đứng bên trái của Kh hỏi “Hỏm mười mấy người của ông kéo đến đánh tôi tại quán Ốc, Phường 6 phải không?”, Kh đang ngồi trên ghế, quay mặt lại trả lời “Tôi không biết mấy anh là ai” thì ngay lúc này H cầm cây g vuông bằng hai tay, đánh 01 cái từ trên xuống, trúng vào vùng trán bên phải, làm Kh ngã xuống nền gạch vỉa hè. N cầm hai vỏ chai bia nhặt tại khu vực bàn nhậu của Kh, HA cầm cây sắt chéo giàn giáo, D cầm cây vuông, K không cầm hung khí cùng tham gia đứng xung quanh bàn nhậu chửi thề lớn tiếng, hâm dọa đánh nhóm bị hại. Thấy sự việc nên ông Phạm Văn Mười B là chủ quán nhậu MB điện thoại trình báo Công an Phường 6, thành phố Cao Lãnh và ra can ngăn. Sau đó, Kh cùng nhóm bạn bỏ chạy còn nhóm của T bị Công an Phường 6 mời về trụ sở làm việc và thu giữ hung khí gồm 02 thanh g vuông, 01 thanh kim loại. Ngoài ra, quá trình điều tra, H tự nguyện giao nộp 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh và 01 cái quần thun ngắn màu xanh là trang phục H mặc vào thời điểm gây thương tích cho Kh để phục vụ công tác điều tra. Đối với Kh được bạn đưa đến Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp cấp cứu và gia đình xin chuyển Kh đến Bệnh viện Nhân dân 115, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị, đến ngày 28/8/2020 xuất viện.
Tại Bản Kết luận giám định pháp về thương tích số 317/TgT ngày 14/10/2020, kết luận về thương tích của Trịnh Văn Kh: Sẹo mổ từ giữa đỉnh – trán vòng qua thái D phải, kích thước trung bình; Sẹo dẫn lưu vùng đỉnh phải, kích thước nhỏ; Vết biến đổi sắc tố da vùng trán phải; Chấn thương đầu gây tụ máu ngoài màng cứng bán cầu phải đã điều trị phẫu thuật lấy máu tụ ổn định; Lõm sọ vùng trán phải đường kính dưới 02cm; Gãy trần ổ mắt phải; Nứt sọ vùng trán phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 29 . Các tổn thương trên do vật tày gây nên. Cơ chế hình thành các tổn thương do ngoại lực tác động từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới.
Tại cáo trạng số 47/CT-VKS-TPCL, ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và các 17, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Đào Nhựt N từ 03 đến 04 năm tù, Nguyễn Minh T 03 đến 04 năm tù; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, và các điều 17, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự bị cáo Lê Bá H từ 02 năm 03 tháng đến 03 năm tù; áp dụng tại điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, và các điều 17, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn D từ 02 đến 03 năm tù, Nguyễn Tuấn K từ 02 đến 03 năm tù; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, và các điều 17, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Bé HA từ 02 đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự bị cáo H và HA đã bồi thường cho anh Kh 15.000.000 đồng, tại phiên tòa anh Kh không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét. Về vật chứng đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.
- Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo D: Thống nhất với Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, như: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho người bị hại, bị cáo thuộc hộ cận nghèo, cha bị cáo là người làm thuê, gia đình bị cáo khó khăn, em của bị cáo bị tai nạn giao thông, với thương tật nặng, nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiện chăm sóc cho em bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của các bị cáo bị truy tố: Khoảng 22 giờ ngày 22/8/2020, tại quán nHA Mười Ba, thuộc Khóm 2, Phường 6, thành phố Cao Lãnh, các bị cáo N, T, H, D, HA và K, với bản tính côn đồ, khi N nhìn thấy anh Kh ngồi uống bia ở bàn đối diện và cho rằng Kh là người trước đây đã đánh T nên nhắc lại sự việc đó cho T và các đồng phạm khác cùng nghe. Sau đó, H cầm 01 cây g vuông dài 0,9m, nặng 1,4kg, D cầm 01 cây g vuông dài 1,4m, nặng 1,6kg, Bé HA cầm 01 thanh kim loại dùng để chéo giàn giáo dài 2,2m, nặng 1,3kg, N cầm 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh là các hung khí nguy hiểm cùng với T và K cùng đến bàn của anh Kh gây chuyện. Tại đây, H cầm cây g bằng hai tay đánh một cái từ trên xuống trúng vào vùng trán bên phải của anh Kh gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 29%.
Trong quá trình điều trà và tại phiên tòa các bị cáo H, N, T, D, HA và K thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dụng cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định thương tích và các tài liệu khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Các bị cáo đều là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, mặt dù các bị cáo và anh Kh không có mâu thuẩn, nhưng bị cáo H cầm 01 cây g vuông, D cầm 01 cây g vuông, Bé HA cầm 01 thanh kim loại, N cầm 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh là các hung khí nguy hiểm cùng với T và K đến bàn của anh Kh gây chuyện và tấn công anh Kh gây thương tích tỉ lệ 29%.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo Đào Nhựt N, Nguyễn Minh T, Lê Bá H, Lê Văn D, Nguyễn Văn Bé HA, Nguyễn Tuấn K đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an N, trật tự ở địa phương. Do đó, cần phải có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại không có sự phân công với nhau. Bị cáo N là người nhắc lại sự việc T bị đánh để tạo ra mâu thuẫn và cũng là người sử dụng 02 vỏ chai bia thủy tinh để giúp sức cho T, bị cáo T dù chưa xác định được bị hại có phải là người trước đây đánh T hay không, nhưng với bản tính côn đồ đã tiên phong đi đến bàn của bị hại để gây chuyện đánh nhau, bị cáo H dù không có mâu thuẫn nhưng là người trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại. Do đó, bị cáo H, T và N cùng giữ vai trò tích cực trong vụ án và chịu trách nhiệm về tỷ lệ thương tật đã gây ra. Đối với D, Bé HA và K tuy không mâu thuẫn và không trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại nhưng tham gia chửi thề, hâm dọa đánh nhóm bị hại để h trợ về mặc tinh thần cho các đồng phạm khác đánh bị hại, nên giữ vai trò đồng phạm và chịu trách nhiệm chung với HA quả mà đồng phạm đã gây ra. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo, để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năng, hối cải; bị cáo H đã bồi thường 14.000.000 đồng và được anh Kh xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo HA bồi thường 1.000.000 đồng và được anh Kh xin giảm nhẹ hình phạt, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H là người chưa thành niên. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự dành cho người chưa thành niên đối với bị cáo H.
- Xét lời bào chữa của trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo D: Như đã phân tích trên, đề nghị của trợ giúp viên là có căn cứ chấp nhận một phần đối với các tình tiết giảm nhẹ. Việc đề nghị cho bị cáo D được hưởng án treo là không có cơ sở. Bởi tại khoản 1, Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, hướng dẩn không cho hưởng án treo đối với hành vi phạm tội có tính chất côn đồ, trong vụ án này, bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội với tính chất côn đồ, do đó không được hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H và HA đã cùng bồi thường thiệt hại cho người bị hại tổng cộng 15.000.000 đồng xong, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét. Đối với thiệt hại về tài sản của quán nHA Mười Ba gồm 02 chai bia thủy tinh bị vỡ, 01 ghế nhựa bị gãy, trong quá trình điều tra ông Mười Ba là chủ quán đã nhận đủ tiền bồi thường không yêu cầu bồi thường gì thêm, tại phiên tòa ông Mười Ba vắng mặt, do đó không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 cây g vuông dài 0,9m, nặng 1,4kg; 01 cây g vuông dài 1,4m, nặng 1,6kg; 01 thanh kim loại tròn dùng để chéo giàn giao dài 2,2m, nặng 1,3kg; 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh; 01 cái quần thun ngắn màu xanh.
Về án phí: Bị cáo D thuộc gia đình hộ cận nghèo nên được miễn nộp, các bị cáo H, N, T, HA và K, m i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Đào Nhựt N, Lê Bá H, Lê Văn D, Nguyễn Văn Bé HA, Nguyễn Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm tù.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, bị cáo T còn phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST, ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo T phải chấp hành là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2021.
Xử phạt bị cáo Đào Nhựt N 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Bá H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bé HA 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H và HA đã bồi thường xong, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 cây g vuông dài 0,9m, nặng 1,4kg; 01 cây g vuông dài 1,4m, nặng 1,6kg; 01 thanh kim loại tròn dùng để chéo giàn giao dài 2,2m, nặng 1,3kg; 01 cái áo thun ngắn tay màu xanh; 01 cái quần thun ngắn màu xanh.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý).
- Về án phí: Các bị cáo Lê Bá H, Đào Nhựt N, Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn Bé HA, Nguyễn Tuấn K, m i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL - VKSND Tỉnh; - CQ CSĐT Công an TPCL; - CQ THAHS Công an TPCL; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |