vanban.org

Bản án 59/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm “Tội trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 59/2021/HS-ST Tuyên án 22/09/2021
Phúc thẩm Bản án 07/2022/HSPT Tuyên án 07/01/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRÍ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm “Tội trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HS-ST
Ngày: 22-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

2. Ông Trần Văn Hổ.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Tr (Tr Gòm), sinh năm 1990 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp B, xã NT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm: 1965 và bà Ngô Thị S, sinh năm 1967; Vợ: không; Con: có 01 người con sinh năm 2016, đang sống với mẹ;

Tiền án: không có; Tiền sự: Ngày 19/11/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã BP ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số: 463/QĐ-XPHC);

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/7/2021 cho đến nay. Có mặt.

* Bị hại:

1. Bà Đặng Thị Hoàng V, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp BT, xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

2. Bà Lý Mỹ H, sinh năm 1969. Có đơn xin vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố MT, Phường A, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trương Thanh L, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố C, Phường D, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988. Có mặt.

Nơi cư trú: ấp MT, xã HM, huyện MCN, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Minh Tr là đối tượng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng từ ngày 06/3/2021 đến ngày 13/3/2021, trên địa bàn thành phố Bến Tre, bị cáo Tr đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của người khác.

Vụ thứ nhất: vào khoảng 21 giờ ngày 06/3/2021, bị cáo Tr điều khiển xe môtô loại Wave, không rõ biển số chạy ngang nhà của chị Đặng Thị Hoàng V ở ấp BT, xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì phát hiện xe kéo tự chế để trước nhà và không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo tháo sợi dây buộc bánh xe kéo, dùng tay phải điều khiển xe môtô, tay trái nắm tay cầm của xe kéo kéo về nhà của Trương Thanh L ở khu phố A, phường C, thành phố BT cất giấu. Sau đó, hành vi của bị cáo bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ: 01 xe kéo tự chế gồm: bộ khung xe được làm bằng sắt chiều dài 3m, chiều rộng 1,2m, bộ cốt xe và hai bánh xe.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Minh Tr thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe kéo (được sao lưu trong đĩa CD)

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 315/KL-HĐĐG ngày 19/4/2021 của Hội đồng định giá thành phố Bến Tre kết luận: 01 xe kéo tự chế gồm: bộ khung xe được làm bằng sắt chiều dài 3m, chiều rộng 1,2m, bộ cốt xe và hai bánh xe; trị giá tài sản ngày 07/3/2021: 2.300.000 đồng.

Vụ thứ 02: ngày 11/3/2021, sau khi cùng với đối tượng tên Kh nhổ trộm của chị Lý Mỹ H ở khu phố MT, phường C, thành phố BT 01 cây hoa giấy màu đỏ, cao 1,5m, tán rộng 0,95m, hoành gốc 0,34m, Trương Thanh L muốn tiếp tục lấy trộm hoa giấy của chị H đem về nhà trồng nên rủ bị cáo cùng thực hiện thì bị cáo đồng ý. Khoảng 02 giờ ngày 13/03/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 71B1-103.76 chở L đến nhà của chị H. Khi đến nơi, bị cáo ngồi trên xe, L xuống xe nhổ lấy 01 cây hoa giấy màu cẩm thạch cao 1m, tán rộng 1m của chị H. Sau khi nhổ được, L ngồi sau xe cầm cây hoa giấy cho bị cáo điều khiển xe chở về nhà của L trồng. Sau đó hành vi của L và bị cáo bị phát hiện. Vật chứng thu giữ:

- 01 cây hoa giấy màu cẩm thạch cao 1m, tán rộng 1m.

- 01 cây hoa giấy màu đỏ, cao 1,5m, tán rộng 0,95m, hoành gốc 0,34m.

- 01 xe môtô biển số 71B1-103.76, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, xe đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước, số máy: JC43E6041101, số khung: RLHJC4321BY124539.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Minh Tr và Trương Thanh L thực hiện hành vi lấy trộm hoa giấy (được sao lưu trong đĩa CD)

Theo Bản kết luận định giá trị tài sản số 320/KL-HĐĐG ngày 20/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 cây hoa giấy màu cẩm thạch cao 1m, tán rộng 1m, trị giá ngày 13/03/2021 là 1.500.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá trị tài sản số 572/KL-HĐĐG ngày 24/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 cây hoa giấy màu đỏ, cao 1,5m, tán rộng 0,95m, hoành gốc 0,34m, trị giá ngày 12/3/2021 là 1.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Đặng Thị Hoàng V 01 xe kéo và trả cho chị Lý Mỹ H 02 cây hoa giấy. Các bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại cáo trạng số 58/CT-VKSTPBT ngày 14 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Tr “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

+ Về hình phạt chính: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Tr từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”.

+ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

+ Về xử lý vật chứng: giao 01 xe môtô biển số 71B1-103.76, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, xe đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước, số máy: JC43E6041101, số khung: RLHJC4321BY124539 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận chị Đặng Thị Hoàng V, chị Lý Mỹ H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

+ Đối với Trương Thanh L khi cho Nguyễn Minh Tr cất giấu xe kéo tại nhà, do Liêm không biết chiếc xe kéo này là do bị cáo phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm. Đối với hành vi của L lấy trộm vào ngày 11/3/2021 và cùng bị cáo lấy trộm của chị Lý Mỹ H 01 cây hoa giấy vào ngày 13/3/2021: Do trị giá tài sản từng lần lấy trộm đều dưới 2.000.000 đồng và L chưa bị kết án hoặc xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt nên Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L là phù hợp.

+ Đối với đối tượng tên Kh do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.

+ Đối với Nguyễn Văn Q khi cho bị cáo mượn xe môtô biển số 71B1-103.76 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q trình bày: ông có mua một xe gắn máy Wave RSX biển số 71B1-103.76 từ một người phụ nữ nhưng không làm giấy tay, chưa thực hiện thủ tục sang tên. Ông có cho bị cáo Tr mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, ông hoàn toàn không biết việc bị cáo Tr dùng xe của ông đi trộm cắp tài sản của người khác. Ông muốn nhận lại xe nhưng không chứng minh được ông là chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Tr khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố, không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Lời sau cùng: xin được giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo từng là quân nhân và là cháu nội của liệt sĩ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, hình ảnh camera ghi nhận, kết quả thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng vào khoảng 21 giờ ngày 06/03/2021, tại nhà thuộc ấp BT, xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã có hành vi một mình lén lút chiếm đoạt của chị Đặng Thị Hoàng V 01 xe kéo tự chế bằng sắt trị giá 2.300.000 đồng và vào khoảng 02 giờ ngày 13/03/2021 tại nhà thuộc khu phố MT, phường c, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo cùng Trương Thanh L đã có hành vi chiếm đoạt của chị Lý Mỹ H 01 cây hoa giấy màu cẩm thạch trị giá 1.500.000 đồng.

Bị cáo là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của chị V và chị H. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Tr về “Tội trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, hiện không có tiền án nhưng đang có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, có ông nội là liệt sĩ theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo là “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe môtô biển số 71B1-103.76, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, xe đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước, số máy: JC43E6041101, số khung: RLHJC4321BY124539 do chưa xác định và làm việc được với chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: chị Đặng Thị Hoàng V đã nhận lại 01 xe kéo, chị Lý Mỹ H đã nhận lại 02 cây hoa giấy và tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và không cần thiết nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Đối với Trương Thanh L khi cho Nguyễn Minh Tr cất giấu xe kéo tại nhà, do Liêm không biết chiếc xe kéo này là do bị cáo phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm. Đối với hành vi của L lấy trộm vào ngày 11/3/2021 và cùng bị cáo lấy trộm của chị Lý Mỹ H 01 cây hoa giấy vào ngày 13/3/2021: Do trị giá tài sản từng lần lấy trộm đều dưới 2.000.000 đồng và L chưa bị kết án hoặc xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt nên Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L là phù hợp.

- Đối với đối tượng tên Kh do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.

- Đối với Nguyễn Văn Qu khi cho bị cáo mượn xe môtô biển số 71B1-103.76 không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm “Tội trộm cắp tài sản”

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr 01 (Một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Ghi nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho chị Đặng Thị Hoàng V 01 (một) xe kéo và đã trả cho chị Lý Mỹ H 02 (hai) cây hoa giấy.

- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre 01 (một) xe môtô biển số 71B1-103.76, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, xe đã qua sử dụng, có nhiều vết trầy xước, số máy: JC43E6041101, số khung: RLHJC4321BY124539 để tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2021 hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý).

3. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Ghi nhận chị Đặng Thị Hoàng V đã nhận lại 01 (một) xe kéo, chị Lý Mỹ H đã nhận lại 02 (hai) cây hoa giấy và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Minh Tr phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ