vanban.org

Bản án 59/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Trần Văn Đ 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59 /2021/HS-ST
Ngày: 29-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Ngô Thị Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Khoa

Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên toà : Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký TAND thành phố Bà Rịa

- Đại diện VKS ND thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 48/2021/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HS ngày 01/7/2021, Thông báo số 02/TB-TA ngày 19/7/2021 về việc dời ngày xét xử, các Thông báo về việc mở lại phiên tòa đối với bị cáo:

Trần Văn Đ;

Sinh năm 2002 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 13, Khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Mộng T, sinh năm 1984.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

Bị hại: Ông Lê Hoài N, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Tổ 3, Khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Đỗ Trọng Đ, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Tổ 14, Khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 21/3/2021, Trần Văn Đ rủ bạn là Đỗ Trọng Đại, sinh năm 2000, trú tại: tổ 14, KP H, phường K, thành phố B đi chơi ở quán game “NET TOP” thuộc tổ 4, khu phố 7, phường P, thành phố B, tỉnh BR-VT. Khi đến quán “NET TOP”, Đ và Đại mỗi người ngồi vào một bàn chơi game. Lúc này tại quán còn có anh Lê Hoài N, sinh năm 1999, trú tại tổ 3, KP3, phường L, thành phố B, cũng là khách đến chơi ngồi cách Đ một bàn. Trong quá trình chơi, Đ nhìn sang bàn bên cạnh, phía tay phải, thì phát hiện trên mặt bàn có 01 cái ví màu đen, Đ mở ra xem thấy có tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện ý định, Đ lấy ví cất vào túi quần và ngồi chơi một lúc rồi đứng dậy ra về. Ngay lúc này, anh N phát hiện bị mất ví nên có quay sang hỏi Đ có nhìn thấy cái ví anh N bỏ quên trên mặt bàn, Đ trả lời “ không thấy!” rồi cùng Đại rời khỏi quán. Về đến nhà, Đ mở ví kiểm tra thì thấy trong ví có: 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng), 01 căn cước công dân và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hoài N. Ngày 22/3/2021, Đ đến cơ quan CSĐT Công an thành phố Bà Rịa đầu thú và giao nộp toàn bộ đồ vật, tài sản chiếm đoạt Đ gồm: 01 ví màu đen bên trong có số tiền 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng), 01 căn cước công dân và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hoài N.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Trần Văn Đ khai nhận một mình thực hiện hành vi phạm tội như trên. Đỗ Trọng Đại, không biết việc Đ đã lây trộm chiếc ví.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng: 01 ví màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Lê Hoài N; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lê Hoài N; Tiền mặt: 8.700.000đ ( Tám triệu bảy trăm nghìn đồng)

Toàn bộ đồ vật, tài sản nêu trên cơ quan CSĐt Công an thành phố Bà Rịa đã trao trả cho chủ sở hữu là anh Lê Hoài N vào ngày 25/3/2021.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại là anh Lê Hoài N sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 18/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Bị cáo không có ý kiến gì đối Bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 18/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng, trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo: Trần Văn Đ mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Không có.

Bị cáo không có ý kiến gì tham gia tranh luận.

Trong lời nói sau cùng bị cáo có đề nghị Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã Đ thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 21/3/2021, tại quán game “NET TOP” thuộc tổ 4, khu phố 7, phường P, thành phố B, tỉnh BR-VT, Trần Văn Đ đã có hành vi lén lút trộm của anh Lê Hoài N, 01 ví màu đen bên trong có số tiền 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác Đ pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm, nhưng vì lòng tham, lợi dụng lúc chủ sở hữu tài sản sơ hở nên bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân Đ pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là đối tượng có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình phức tạp. Từ đó xác định cần có một mức án, hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xét bị cáo phạm tội nhưng tự nguyện giao nộp tài sản trả lại cho người bị hại, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bên cạnh đó, bị cáo đã chủ động ra đầu thú sau khi có hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mình nên xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng Đ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Văn Đ 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (29-9-2021).

Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường Long Hương, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Trần Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát giáo dục bị cáo.Trường hợp người Đ hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người Đ hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Tố tụng hình sự này.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (29-9-2021) bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận Đ bản án hoặc bản án Đ niêm yết công khai.

Cỡ chữ