- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Kh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2021/HS-ST Ngày: 25-10-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Ngọc Bích
2. Bà Đặng Thị Hiền Thục
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Quốc Kh, sinh năm: 1983 tại Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không có; chỗ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đức D và bà: Hoàng Thị Ph; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/3/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 01/11/2016, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/5/2021.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Võ Thái Minh Kh, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 23/5/2021, bị cáo nhận được tin nhắn của một người bạn tên H không rõ lai lịch từ mạng xã hội Zalo tên “Suri” nhờ đặt mua giùm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax thì bị cáo đồng ý. Bị cáo sử dụng điện thoại của mình gọi tới cửa hàng Bạch Long đặt mua chiếc điện thoại Iphone 12 Promax với giá 26.790.000 đồng. Đến 11 giờ cùng ngày, ông Võ Thái Minh Kh là nhân viên của Cửa hàng Bạch Long đến phòng 204 Khách sạn Ngọc Hương địa chỉ A22 Trường Sơn, Phường 15, Quận 10 gặp bị cáo để giao điện thoại. Tại đây, sau khi bị cáo kiểm tra điện thoại xong, ông Kh nhận lại điện thoại để ở trên giường và yêu cầu thanh toán tiền mới giao hàng. Hương nhắn tin qua Zalo gửi cho bị cáo giao dịch chuyển khoản thành công từ Tong Manh H đến tài khoản mang tên Tran Trung T. Bị cáo đưa cho ông Kh xem, trong lúc đang chờ cửa hàng xác nhận đã nhận được tiền thì bị cáo Phạm Quốc Kh nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Lợi dụng lúc ông Kh không để ý, bị cáo lén lút lấy điện thoại và đi xuống dưới bắt taxi chạy thoát.
Ngày 29/5/2021 ông Kh đến Công an Phường 15, Quận 10 trình báo vụ việc. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã yêu cầu định giá tài sản, tại Kết luận định giá tài sản số 490/KL-HĐĐGTS ngày 09/6/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - UBND Quận 10 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax có trị giá là 26.790.000 đồng.
Qua truy xét, ngày 31/5/2021 Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố, bắt tạm giam đối với Phạm Quốc Kh.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Sau khi chiếm đoạt tài sản bị cáo đem bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch với giá 10.000.000 đồng. Bị cáo khai quen H qua mạng Zalo không biết nhân thân, lai lịch của H, bị cáo không có bàn bạc trước với H về việc chiếm đoạt điện thoại.
Xác minh số tài khoản 17755047 mang tên Tống Mạnh H mở tại ngân hàng ACB, được biết ngày 23/5/2021 tài khoản trên không phát sinh giao dịch nào. Ông H có hộ khẩu thường trú tại đường E, phường F, Quận G nhưng đã chết ngày 10/6/2020.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia là tài sản cá nhân của bị cáo Kh bị thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo (lưu hồ sơ).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Thái Minh Kh đã bồi thường cho cửa hàng Bạc Long số tiền 26.790.000 đồng nên ông Kh yêu cầu bị cáo Kh bồi thường số tiền trên.
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSQ10 ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Phạm Quốc Kh về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 26.790.000 đồng.
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án và đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền như phía bị hại yêu cầu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Phạm Quốc Kh từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Quốc Kh đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 26.790.000 đồng nên bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra bị cáo có nhân thân không tốt, ngày 18/3/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 01/11/2016, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Bị cáo có nhân thân không tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền để nộp ngân sách Nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Thái Minh Kh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 26.790.000 đồng. Việc bị cáo đồng ý bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia. Xét thấy đây là tài sản bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí (hình sự + dân sự) sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc Kh 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2021.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Phạm Quốc Kh phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại ông Võ Thái Minh Kh số tiền 26.790.000 (hai mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/09/2021 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Quốc Kh chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.339.500 (một triệu ba trăm ba mươi chín nghìn năm trăm) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (4) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (4) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |