vanban.org

Bản án 59/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2021. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2021/HS-ST
Ngày 10 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Nghị;

Bà Nguyễn Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2021/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 60/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Trần Mạnh T, sinh năm 1992; nơi sinh, nơi cư trú: Số, đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1969; con bà Vũ Thị C, sinh năm 1972; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con;

- Tiền án:

+ Ngày 20/12/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS năm 1999.

+ Ngày 05/2/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS năm 1999.

- Tiền sự:

+ Ngày 10/9/2019 bị TAND thành phố Nam Định quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 25/2019/QĐ-TAND, thời hạn chấp hành 21 tháng.

+ Ngày 01/7/2021 bị Công an phường Cửa Nam, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh nhau.

- Nhân thân:

+ Ngày 10/8/2009 bị Công an thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản;

+ Ngày 05/8/2010 bị Công an thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi điều khiển xe mô tô chưa đủ tuổi theo quy định;

+ Ngày 19/11/2011 bị Công an thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi đánh bạc;

+ Ngày 12/01/2012 bị Công an huyện Hải Hậu xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi tàng trữ TPCMT;

+ Ngày 09/9/2014 bị Công an thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác;

+ Ngày 15/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 12/8/2021 đến ngày 18/8/2021 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực (có mặt).

* Bị hại: Ông Đoàn Quang T, sinh năm 1962; cư trú tại: Xóm, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định - là người được giao quản lý tài sản nhà văn hóa xóm, xã N (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 11/8/2021, Trần Mạnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (Sirius) màu đỏ đen BKS 18B1-084.09 rủ và chở Hoàng Văn T, sinh ngày 07/5/2007 trú tại số 3/42 đường T, phường C, thành phố N với mục đích đi trộm cắp tài sản. Khi đi T mang theo 01 thanh kim loại, đường kính 1,6cm, dài 39cm để làm công cụ cậy, phá khóa cửa. Bị cáo chở T đi đến khu vực xóm, xã N, huyện N, T quan sát thấy cổng nhà văn hóa không đóng, cửa nhà khóa không có người trông coi, nên bị cáo đi xe vào trong sân, bảo T đứng ở ngoài trông xe cảnh giới. Bị cáo đi đến cửa dùng thanh kim loại mang theo phá ổ khóa, đi vào bên trong thấy trên bàn inox có 01 âm ly nhãn hiệu Jarguar màu vàng và 01 đầu DVD nhãn hiệu Califonia màu đen, bị cáo tháo dây điện rồi bê 01 đầu đĩa DVD và 01 âm ly ra ngoài đưa cho T ôm, bị cáo điều khiển xe mô tô chở T đi về nhà mình cất giấu. Sau đó, bị cáo lại điều khiển xe chở T xuống nhà văn hóa xóm, xã N để tiếp tục trộm cắp tài sản. Đến nơi, T đứng ngoài cảnh giới, bị cáo vào bên trong lấy 02 lọ lục bình bằng sứ và 03 chiếc ghế bằng kim loại mang ra ngoài đưa cho T. Sau đó bị cáo điều khiển xe bằng tay phải, tay trái cầm 01 lọ lục bình chở T ngồi sau cầm 01 chiếc lọ lục bình và 03 chiếc ghế đi về đến đoạn đê thuộc xóm, xã N thì bị tổ tuần tra Công an xã N phát hiện, bị cáo và T sợ hãi bỏ chạy đã làm vỡ 02 chiếc lục bình. Lực lượng Công an đã bắt giữ bị cáo và T đưa về trụ sở Ủy ban nhân dân xã N làm việc.

Vật chứng thu giữ của bị cáo gồm:

- 02 chiếc lọ lục bình bằng sứ có chiều cao 54cm, chu vi thân bình 72 cm, đường kính miệng 19 cm đã bị vỡ;

- 03 chiếc ghế bằng kim loại nhãn hiệu Gia Anh đã qua sử dụng cao 43cm, đường kính mặt ghế 27cm;

- 01 thanh kim loại, đường kính 1,6cm, dài 39cm;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ đen BKS 18B1-084.09;

Ngoài ra bị cáo Tiến còn tự nguyện giao nộp 01 âm ly nhãn hiệu Jarguar màu vàng và 01 đầu DVD nhãn hiệu Califonia màu đen đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 22/GĐKTHS ngày 13/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nam Trực kết luận: Tài sản Trần Mạnh T trộm cắp tại thời điểm xảy ra vụ án có giá trị như sau: 01 âm ly nhãn hiệu Jarguar màu vàng trị giá 800.000 đồng; 01 đầu DVD nhãn hiệu Califonia màu đen giá 400.000 đồng; 02 lọ lục bình bằng sứ chiều cao 54 cm, chu vi thân bình 72 cm, đường kính miệng 19 cm khi còn nguyên vẹn giá 800.000 đồng; 03 ghế bằng kim loại là 50.000 đồng/1chiếc, 3 chiếc có giá là 150.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 2.150.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định ông Đoàn Quang T là người được giao nhiệm vụ quản lý tài sản của nhà văn hóa xóm , xã N nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông T 01 âm ly nhãn hiệu Jarguar màu vàng, 01 đầu DVD nhãn hiệu Califonia màu đen, 03 chiếc ghế bằng kim loại đã qua sử dụng. Đối với 02 chiếc lọ lục bình bị vỡ, bà Vũ Thị C là mẹ đẻ của bị cáo Tiến đã tự nguyện bồi thường cho ông T số tiền 800.000 đồng. Ông T đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, ông không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số: 60/CT-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Mạnh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2021.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đoàn Quang T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên không đặt ra xem xét;

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ đen BKS 18B1-084.09 đăng ký tên Trần Mạnh T; tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại đường kính 1,6cm; dài 39cm;

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo Trần Mạnh T thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, kết luận định giá tài sản số: 22/GĐKTHS ngày 13/8/2021 của Hội đồng định giá trong TTHS huyện Nam Trực và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ đêm ngày 11/8/2021, rạng sáng ngày 12/8/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ đen BKS 18B1-084.09 của mình chở Hoàng Văn T đi đến khu vực xóm, xã N, huyện N, lợi dụng sơ hở nhà văn hóa không có người trông coi tài sản, bị cáo đã lén lút dùng thanh kim loại phá khóa cửa, vào bên trong lấy trộm tài sản gồm: 01 âm ly, 01 đầu DVD, 02 chiếc lọ lục bình bằng sứ và 03 chiếc ghế bằng kim loại. Các tài sản trên đều đã qua sử dụng có tổng giá trị tại thời điểm xảy ra vụ án là 2.150.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 05/2/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" với tình tiết tăng nặng "Tái phạm" chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội tương tự do cố ý. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo phải chịu tình tiết định khung thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện là sai trái; hơn nữa bị cáo đã nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật, đã bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để khắc phục, sửa chữa trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội là thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và dăn đe phòng ngừa chung

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục bồi thường cho bị hại nên hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào;

Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù bị cáo có nhân thân xấu, nhưng không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn. Do vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề xuất đối với bị cáo là chưa phù hợp, cần xem xét giảm nhẹ hơn nữa bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Hoàng Văn T, sinh ngày 07/5/2007 cùng Tiến thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác khi chưa đủ 16 tuổi, nên Tài không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, Công an huyện Nam Trực đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính “Cảnh cáo” đối với Hoàng Văn T là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đoàn Quang T đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 thanh kim loại đường kính 1,6cm; dài 39cm là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (Sirius) màu đỏ đen BKS 18B1-084.09 đăng ký mang tên Trần Mạnh T là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Mạnh T 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2021.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại đường kính 1,6cm; dài 39cm;

- Tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (Sirius) màu đỏ đen BKS 18B1-084.09 đăng ký tên Trần Mạnh Tiến.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2021 giữa cơ quan Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực);

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Mạnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ