- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "về việc tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXXST- DS, ngày 15 tháng 3 năm 2021, giữa: - Nguyên đơn:…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 59/2021/DSST Ngày: 06/4/2021 V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Công
2. Ông Đàm Kiến Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị An Thư - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Gò Công;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 220/2020/TLST-DS, ngày 25/11/2020, về việc tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXXST- DS, ngày 15 tháng 3 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Số 112/5, khu phố 4, phường 5, thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Bà Phạm Thị A, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp Tân X, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
(Bà S và bà A có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa - Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị S trình bày:
Tôi có tham gia góp 05 dây hụi do bà A làm đầu thảo, cụ thể như sau:
- Dây thứ 1: Hụi mở ngày 30/9/2018 (al), dây hụi có 25 phần, 1.000.000 đồng/phần, tôi tham gia góp 02 phần. Tôi đã góp được đến kỳ thứ 23 thì bà A vỡ hụi nên không giao hụi cho tôi. Bà A còn nợ 46.000.000 đồng.
- Dây thứ 2: Hụi mở ngày 15/12/2018 (al), dây hụi có 25 phần, 1.000.000 đồng/phần, tôi tham gia góp 03 phần. 02 phần hụi chưa hốt, tôi đã góp được 21 kỳ, số tiền thực đóng là 23.780.000 đồng. Riêng 01 phần hụi đã hốt, tôi còn nợ lại bà A 06 kỳ hụi chết là 6.000.000 đồng.
- Dây thứ 3: Hụi mở ngày 25/3/2019 (al), dây hụi có 25 phần, 1.000.000 đồng/phần, tôi tham gia góp 03 phần. Tôi đã góp được 17 kỳ, số tiền thực đóng là 28.242.000 đồng.
- Dây thứ 4: Hụi mở ngày 05/4/2020 (al), dây hụi có 20 phần, 1.000.000 đồng/phần, tôi tham gia góp 01 phần. Tôi đã góp được 05 kỳ, số tiền thực đóng là 2.780.000 đồng.
- Dây thứ 5: Hụi mở ngày 20/5/2020 (al), dây hụi có 20 phần, 1.000.000 đồng/phần, tôi tham gia góp 02 phần, số tiền tôi thực đóng là 2.294.000 đồng.
Tổng số tiền của 5 dây hụi, tôi đóng cho bà A được 109.020.000 đồng.
Ngoài ra tôi có mua 02 phần hụi như sau: 01 phần hụi khui ngày 25/3/2019 (al), tôi mua với số tiền là 12.855.000 đồng. 01 phần hụi khui ngày 05/34/2020 (al), tôi mua với số tiền là 10.380.000 đồng. Tổng số tiền của 02 phần hụi mua là 23.235.000 đồng, bà A chưa giao tiền cho tôi.
Tổng số tiền bà A còn nợ tôi là 132.255.000 đồng. Tôi còn nợ lại bà A 6.000.000 đồng.
Nay yêu cầu bà A trả cho tôi 132.255.000 đồng làm một lần, khi án có hiệu lực pháp luật. Tôi sẽ trả cho bà A 6.000.000 đồng một lần, khi án có hiệu lực pháp luật.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa - Bị đơn, bà Phạm Thị A trình bày:
Tôi đồng ý với phần trình bày của bà S. 05 phần hụi bà S góp được số tiền 109.020.000đồng và 02 phần hụi mua là 23.235.000 đồng. Tổng cộng tôi nợ bà S 132.255.000 đồng.
Tôi có yêu cầu phản tố, yêu cầu bà S trả số tiền nợ hụi chết là 6.000.000 đồng và cấn trừ vào số tiền tôi còn nợ bà S.
Do các hụi viên đã hốt hụi, không đóng lại hụi chết nên tôi không có tiền trả cho các hụi viên chưa hốt hụi, trong đó có tiề của bà S. Nay xin trả cho bà S mỗi tháng 1.000.000 đồng.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo các văn bản tố tụng, cũng như tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung giải quyết: Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326//2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Bà A thừa nhận có nợ bà S 132.255.000 đồng tiền góp hụi nên có nghĩa vụ trả cho bà S. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà A trả cho bà S số tiền góp hụi còn nợ là 132.255.000 đồng theo thời gian như bà S yêu cầu. Bà A yêu cầu phản tố, yêu cầu bà S trả số tiền nợ hụi còn nợ là 6.000.000 đồng. Bà S thừa nhận có nợ bà A tiền hụi là 6.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà S trả cho bà A 6.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật. Bà S và bà A phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị S và bà Phạm Thị A là tranh chấp về “Hợp đồng góp hụi” theo khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S: Bà S yêu cầu bà A trả số tiền hụi còn nợ là 132.255.000 đồng. Xét thấy: Tại phiên tòa, bà A và bà S trình bày thống nhất số tiền hụi bà A còn nợ bà S là 132.255.000 đồng. Bà A đồng ý trả cho bà S số tiền 132.255.000 đồng nên ghi nhận.
Xét yêu cầu phản tố của bà A: Bà A yêu cầu bà S trả số tiền hụi chết còn nợ là 6.000.000 đồng. Bà S đồng ý trả cho bà A 6.000.000 đồng làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật nên ghi nhận.
Xét về thời gian trả: Bà S yêu cầu bà A trả 163.235.000 làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Bà A xin trả dần hàng tháng 1.000.000 đồng. Xét thấy, mục đích của việc tổ chức góp hụi là tương trợ vốn làm ăn trong nhân dân. Theo thỏa thuận trong hình thức góp hụi là sau mỗi kỳ gop hụi có hụi viên được hốt hụi. Nhưng do bà A ngưng góp hụi nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các hụi viên trong đó có quyền lội của bà S. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà S về việc yêu cầu bà A trả 132.255.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, nên chấp nhận.
Về án phí: Yêu cầu của bà S được chấp nhận nên bà S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà A. Bà A có nghĩa vụ trả tiền cho bà S nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà S. Bà A có hoàn cảnh kinh tế đang gặp khó khăn nên được giảm 50% số tiền án phí theo qui định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 5 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S.
- Buộc bà Phạm Thị A có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền hụi còn nợ là 132.255.000 (một ba mươi hai triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn) đồng, trả khi án có hiệu lực pháp luật.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị A.
- Buộc bà Nguyễn Thị S trả cho bà Phạm Thị A số tiền hụi còn nợ là 6.000.000 (sáu triệu) đồng, trả khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí:
+ Bà Phạm Thị A phải nộp 6.612.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được giảm 50% số tiền án phí. Do đó, bà A còn phải nộp 3.306.375 (ba triệu ba trăm lẽ sáu nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0019027, ngày 22/12/2020, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Như vậy, bà A còn phải nộp tiếp 3.006.375 (ba triệu không trăm lẽ sáu nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng, án phí.
+ Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.105.875 đồng, theo biên lai thu số 0019144, ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền chênh lệch là 3.805.875 (ba triệu tám trăm lẽ năm nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng.
Đến hạn trả tiền, nếu bà Phạm Thị A, bà Nguyễn Thị S không thực hiện việc trả tiền theo thời gian trên thì hàng tháng phải trả thêm khoản lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Nôi nhaän:
| - VKSND TX. Goø Coâng; - THA Daân söï TX. Goø Coâng; - Caùc ñöông söï; - Löu HS, AV. Nôi nhaän: - VKSND TX. Goø Coâng; - THA daân söï TX. Goø Coâng; - Caùc ñöông söï; - Löu HS, AV. | TM. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ HOÀNG NHI TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû Toaï Phieân Toaø NGUYỄN THỊ HOÀNG NHI |