vanban.org

Bản án 59/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản” Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/HSST
Ngày: 16/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L - TỈNH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân

Bà Nguyễn Thị Miền

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố L.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Thêm - Kiểm sát viên.

Ngày 16/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2020/TLST - HS ngày 23/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Đức C (Tên gọi khác không) Sinh ngày 19/10/1972 tại thành phố L; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4 C, thành phố L, tỉnh C; Chỗ ở: Số nhà 075, đường T, tổ 22, phường K, thành phố L, tỉnh C; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đức Huyến (đã chết) và bà Vũ Thị Tuyết; Vợ: Vũ Thị Ngọc Yến (đã chết); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Không; tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án số 72/2011/HSST ngày 27/6/2011 của Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt bị cáo Vũ Đức C 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Tại Quyết định số 11/2016/QĐ - TA ngày 07/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh C quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vũ Đức C thời hạn 01 năm kể từ ngày 12/4/2016 đến ngày 05/4/2017 đã chấp hành xong quyết định.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L - Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: Chị Nguyễn Thu Hường - Sinh năm 1992 Địa chỉ: Số nhà 164, đường Mường Than, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người làm chứng: Anh Phạm Như Hảo - Sinh năm 1991

Địa chỉ: Số nhà 164, đường Mường Than, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 ngày 27/04/2020, Vũ Đức C đi xe mô tô từ nhà trọ tại số nhà 075 đường Tuệ Tĩnh, Phường K, TP L đến chợ Nguyễn Du, thuộc tổ 22, phường K, TP L để mua thực phẩm. Khi đến chợ, Vũ Dức C nhìn thấy một chiếc xe điện đang để ở cạnh đường trước số nhà 061, ngõ 2, chợ Nguyễn Du, bên trong hốc đựng đồ phía bên trái xe máy điện có 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu Iphone 11 pro max, màu xanh, của chị Nguyễn Thu Hường, sinh năm 1992, trú tại: số nhà 164, đuờng Mường Than, phường K, thành phố L. Quan sát xung quanh không có ai để ý nên Vũ Đức C điều khiển xe mô tô đến sát chiếc xe máy điện, C dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động trên rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi khoảng 10 m thì bỏ chiếc điện thoại vào trong túi quần bên phải và đi về phòng trọ tại số nhà 075, đường Tuệ Tĩnh, tổ 10, phường K, thành phố L. Tại phòng trọ Vũ Đức C tháo ốp lưng và thẻ sim ra khỏi điện thoại. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, anh Phạm Như Hảo, sinh năm 1991, là chồng của chị Nguyễn Thu Hường sau khi sử đụng phần mềm định vị bằng tài khoản icloud đã xác định vị trí chiếc điện thoại di động trên tại số nhà 075, đường Tuệ Tĩnh là nơi Vũ Đức C thuê trọ. Khi anh Phạm Như Hảo đến hỏi về chiếc điện thoại thì Vũ Đức C lấy chiếc điện thoại trộm cắp được từ trong túi quần đưa cho anh Hảo rồi Cường bỏ chạy ra đường thì bị tổ công tác Công an phường K, thành phố L đang làm nhiệm vụ tại khu vực trên bắt giữ. Quá trình điều tra Vũ Đức C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

Vật chứng thu giữ đƣợc gồm:

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro max, màu xanh, số IMEI: 353891101318686;

- 01 chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa;

- 01 sim điện thoại;

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda dream, số khung NF100NE 0048243 số máy đã bị xóa.

- 01 biển kiểm soát 24K7 8875.

Tại Kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 31 ngày 24/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Lào Cai đã xác định giá trị tài sản bị xâm hại là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu xanh 256 GB: có giá trị là 24.693.500 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn năm trăm đồng)

Cáo trạng số 58/CT - VKS ngày 23/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố bị cáo Vũ Đức C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Đức C như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thu Hường đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật,

Bị cáo Vũ Đức C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị hại là chị Nguyễn Thu Hường vắng mặt và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thu Hường không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo Vũ Đức C nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị hại, người làm chứng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng không trở ngại cho việc xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo và giải quyết cho việc bồi thường thiệt hại. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đức C: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận ngày 27/04/2020 bị cáo đi xe mô tô từ nhà trọ tại số nhà 075 đường Tuệ Tĩnh, Phường K, TP L đến chợ Nguyễn Du và có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thu Hường 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max, màu xanh có giá trị là 24.693.500 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn năm trăm đồng). Sau đó anh Phạm Như Hảo là chồng chị Hường đến hỏi về chiếc điện thoại thì Vũ Đức C lấy chiếc điện thoại trộm cắp được từ trong túi quần đưa cho anh Hảo rồi C bỏ chạy ra đường thì bị tổ công tác Công an phường K, thành phố L đang làm nhiệm vụ tại khu vực trên bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất mức độ hành vi, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Vũ Đức C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, hiểu biết xã hội và pháp luật, mặc dù biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vào ngày 27/4/2020, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút để lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thu Hường là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu xanh 256 GB: có giá trị là 24.693.500 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn năm trăm đồng) với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Xét về nhân thân bị cáo thấy rằng bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân không tốt năm 2011 bị Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh C quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm kể từ ngày 12/4/2016 đến ngày 05/4/2017 đã chấp hành xong quyết định nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, vì vậy xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Bị cáo có bố đẻ là Vũ Đức Huyến được Nhà nước tặng danh hiệu Huân chương kháng chiến hạng nhì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 biển kiểm soát 24K7 - 8875 cần tịch thu tiêu hủy

Đối với chiếc xe máy Honda Dream, màu trắng của Vũ Đức C sử dụng khi trộm căp tài sản, Vũ Đức C khai mượn của người có tên là Liên làm kế toán cho Công ty TNHH Tuấn Anh có địa chỉ tại xã Bản Vược, huyện X, tỉnh C từ ngày 26/04/2020. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác minh nhưng không có Công ty ở địa chỉ như C khai. Tra cứu tại Phòng Cảnh sát giao thông không đủ cơ sở dữ liệu nên chưa xác định được chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô trên. Vì vậy Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh chủ sở hữu để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc biển kiểm soát 24K7- 8875 gắn trên chiếc xe mô tô trên, xác định được cấp đăng ký mang tên anh Lý Hoài Nam, sinh năm 1975, trú tại xã Bản V, huyện,X, tỉnh Lào Cai là chủ sở hữu, anh Nam xác nhận chiếc biển kiểm soát 24K7- 8875 là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Laly anh mua và đăng ký sử dụng vào năm 2003, đến năm 2004 do xe bị hỏng không sử dụng được nên anh đã bán chiếc xe cùng biển kiểm soát cho một người thu mua sắt vụn không rõ tên tuổi địa chỉ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Vũ Đức C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo 27/4/2020.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 24K7 - 8875 (Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2020 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Đức C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luât.

Cỡ chữ