- Tranh chấp gì? án hình sự — "Duong Van Ch lua dao chiem doat tai san - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Kể từ ngày bản án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 59/2020/HSST Ngày: 22/4/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ký
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài
Ông Doãn Đức Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2020/HSST, ngày 11/3/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/HSST-QĐ, ngày 09/4/2020 đối với bị cáo:
Dƣơng Văn C, sinh năm 1997 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TR, xã VB, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không: Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông Dương Văn Dũng, sinh năm 1974 và bà Vưu Thị Kiều T, sinh năm 1976; Bị cáo chưa đăng ký kết hôn; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 04/01/2020 - Có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1991 – vắng mặt.
Tạm trú: Tổ 4, ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn R, sinh năm 1962 – vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp 1, ấp ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Nguyễn Hữu Pháp – vắng mặt,
Địa chỉ: Khu phố 1, xã VA, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Ông Dương Văn Th – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Văn C là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Ngày 03/01/2020, C từ quê đi đến huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chơi nhưng do không còn tiền tiêu xài và bắt xe về nhà tại tỉnh Sóc Trang nên C nảy sinh ý định đến tiệm mua bán xe mô tô cũ “Hoàng Hai” có địa chỉ tại ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai do ông Trần Văn R làm chủ để giả vờ hỏi mua xe, sau đó xin cho chạy thử xe rồi chiếm đoạt mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Để tạo niềm tin cho chủ cửa hàng, Chí đã rủ anh Dương Văn Th, sinh năm 1991, trú tại ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đi cùng thì được anh Th đồng ý. C không nói cho anh Th mục đích đi chiếm đoạt tài sản của mình. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Th điều khiển xe mô tô biển số 83P3 – 181.70 chở C đến tiệm mua bán xe mô tô cũ “Hoàng Hai”. Tại đây C gặp anh Trần Văn L (là con trai ông R), C giả vờ hỏi mua xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 và thỏa thuận giá mua bán xe là 18.000.000đ. Sau đó C yêu cầu anh L giao xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 thì C điều khiển xe bỏ đi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh L cùng với anh Th không thấy C quay lại nên đã trình báo công an xã ST, huyện Trảng Bom. Công an xã ST đã lập hồ sơ ban đầu và đưa anh Th về trụ sở làm việc. Trên đường đi anh Th phát hiện C cùng xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 đang đứng bên đường gần cổng công ty Hưng Dũng Phát có địa chỉ tại ấp 4, xã ST, huyện Trảng Bom nên đã báo công an đưa C cùng xe mô tô về trụ sở công an xã. Cùng ngày, công an xã ST đã bàn giao Dương Văn C cùng toàn bộ hồ sơ giao cho công an huyện Trảng Bom để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 07/01/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom kết luận: 01 xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 bị cáo Chí chiếm đoạt có giá trị 18.000.000đ.
Vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô biển số 60B8 – 443.80, trong quá trình điều tra anh Trần Văn L khai nhận mua của anh Nguyễn Hữu Ph là chủ sở hữu xe mô tô nhưng chưa cung cấp được chứng cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bổ sung một phần nội dung cáo trạng về việc đã xác định được anh Trần Văn L là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B8 – 443.80, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra giao xe mô tô này cho anh L là có căn cứ.
Tại bản Cáo trạng số 78/CT/VKS-TB, ngày 09/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Dương Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, phân tích vai trò của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, bổ sung một phần nội dung cáo trạng về việc xử lý xe mô tô số 60B8 – 443.80 và đề nghị xử phạt bị cáo Chí từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2020, tại tiệm mua bán xe mô tô cũ “Hoàng Hai” ở ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Bằng thủ đoạn gian dối, Dương Văn C đã chiếm đoạt xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 có giá trị 18.000.000đ của anh Trần Văn L, sau đó bị Chí bị bắt giữ để điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hai. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về biện pháp tư pháp: Anh Trần Văn L là chủ sở hữu hợp pháp đã nhận lại xe mô tô biển số 60B8 – 443.80 và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn C: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2020.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 14/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; Bị hại;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan;
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom;
- Bộ phận T.H.A hình sự;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện Trảng Bom
- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
Lê Thị Ký
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Lưu hồ sơ.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TRẢNG BOM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––––
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––
Trảng Bom, ngày 10 tháng 10 năm 2019
Số: 440/CV-TA
V/v: “Kiến nghị xem xét
trách nhiệm hình sự”
Kính gửi: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2019/HSST, ngày 23/9/2019 đối với bị cáo: Mai Đức Anh (tên gọi khác: Chớp, Chớp Điên), sinh năm 1990 và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo Mai Đức Anh ngoài phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn có dấu hiệu của tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Anh. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Mai Đức Anh chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự vì cho rằng số tiền xâu 200.000 đồng thu được tại chiếu bạc là tiền các bị cáo tự bỏ ra dùng chung cho cả nhóm để mua thức ăn, nước uống …chứ không phải Mai Đức Anh thu riêng cho bị cáo nên giữ nguyên quyết định truy tố.
Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đức Anh về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Xin trân trọng cảm ơn!
| Nơi nhận: - Như trên; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 10 giờ 30’ ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại: Phòng nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan 23 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo: Mai Đức Anh và đồng phạm Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: để điều tra bổ sung hay không: Không Kết quả biểu quyết: 3/3 viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp: Đúng quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 phải xác định rõ điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự được áp dụng: Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Thu Lan phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Về hình phạt: sự: Tuyên bố bị cáo Mai Đức Anh phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi 2 (hai) tháng 09 (chín) ngày bị cáo bị giam giữ. 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Phước Sơn phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được trừ đi 03 (ngày) bị cáo bị giam giữ. Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Văn Hòa phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. phường giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo cho cơ quan Thi hành án hình sự để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án cho UBND cấp xã, phường nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục. 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vương Thị Kim Phượng phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được trừ đi 03 ngày bị cáo bị giam giữ. Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu Lan phạm tội “Đánh bạc”: Xử phạt bị cáo số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). hành không đủ khoản tiền phạt thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 không: Không Kết quả biểu quyết: 3/3 khoản bị phong tỏa: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Mai Đức Anh, Lê Phước Sơn, Võ Văn Hòa, Vương Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Thu Lan mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Hình sự: - Tịch thu tiêu hủy 01 chăn vải, 01 bộ bài tây 52 lá; triệu đồng). Kết quả biểu quyết: 3/3 viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đúng quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn có dấu hiệu của tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Anh. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Mai Đức Anh chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự vì cho rằng số tiền xâu 200.000 đồng thu được tại chiếu bạc là tiền các bị cáo tự bỏ ra dùng chung cho cả nhóm để mua thức ăn, nước uống …chứ không phải Mai Đức Anh thu riêng cho bị cáo nên giữ nguyên quyết định truy tố. Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đức Anh về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 9. Các vấn đề khác: quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 Nghị án kết thúc 11h00’ cùng ngày. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Loan CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hổ và ông Doãn Đức Hùng. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2019/TLST-HS ngày Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ 2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra 3. Có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì Có căn cứ kết tội bị cáo Mai Đức Anh, Lê Phước Sơn, Võ Văn Hòa, Vương 4. Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Giao bị cáo Võ Văn Hòa cho Ủy ban nhân dân xã Đông Hòa, huyện Trảng Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì UBND cấp xã, Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không thi hành hoặc thi 5. Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay 6. Án phí hình sự, án phí dân sự; xử lý vật chứng; tài sản bị kê biên, tài 6.1. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 6.2 Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 60.800.000 đồng (Sáu mươi tám 7. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo Mai Đức Anh ngoài Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |