vanban.org

Bản án 59/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Quân phạm tội “Lừa đảo chiếm đọat tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Quân 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn Quân. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đọat tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Quân phạm tội “Lừa đảo chiếm đọat tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59 /2020/HS-ST
Ngày: 13/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Định.

2. Ông Hà Đình Sở.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: Lê Văn Quân, sinh ngày: 27/6/1996 tại Thanh Sơn, Phú Thọ; Nơi cư trú: khu Bồ Xồ, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; NghÒ nghiÖp: Lao động tự do; trình độ v¨n ho¸: 6/12; D©n téc: Dao; Giới tính: Nam; Quèc tÞch: ViÖt Nam; T«n gi¸o: Không; con ông: Lê Văn Lợi, sinh năm 1964 và bà: Lê Thị Vân, sinh năm 1966; Vợ: Bàn Thị Vân, sinh năm 2000; Con: 01 con, sinh năm 2017; Tiền án,Tiền sự: không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lã Thành Công – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

- Người bị hại: Anh Lê Văn Nam, sinh năm: 1986 và chị Lê Thị Lương, sinh năm 1986.

(Chị Lê Thị Lương ủy quyền cho anh Lê Văn Nam).

Địa chỉ: Khu Bồ Xồ, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(Vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Bùi Đức Dũng - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ.

(Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn Minh, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị Hạnh - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Quân vì bản thân thiếu tiền tiêu sài và trang trải công việc làm ăn nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy của vợ chồng anh Lê Văn Nam, chị Lê Thị Lương bằng hình thức hỏi mượn xe đi chơi sau đó bán lấy tiền. Cụ thể như sau: Khoảng hơn 17 giờ ngày 19/02/2020, Quân gọi điện thoại cho anh Nam hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 19C1-280.23 để đi chơi, nhưng Nam không đồng ý, một lúc sau vào khoảng 17h30 Quân đi bộ qua quán nước nhà ông Lê Văn Quý (sinh năm: 1967 ở cùng khu) thấy anh Nam đang ngồi xem tivi ở đó, Quân đi vào và tiếp tục hỏi anh Nam cho mượn xe máy. Thấy Quân hỏi, anh Nam bảo xe máy là tài sản chung của vợ chồng nên anh không quyết định cho mượn được và có bảo Quân đến hỏi ý kiến của vợ Nam. Nghe anh Nam nói vậy, Quân đi bộ đến nhà anh Nam gặp chị Lương ở nhà một mình, Quân hỏi chị Lương cho mượn chiếc xe máy của vợ chồng anh chị để đi chơi nhưng chị Lương không đồng ý, Quân đi về. Để đạt được mục đích của mình Quân đã gọi điện thoại cho anh Nam và nói là chị Lương đã đồng ý cho mượn xe, anh Nam tin lời Quân nói nên đã đồng ý và bảo với Quân đến lấy xe ở nhà ông Lê Văn Hòa (sinh năm:1961 ở cùng khu - là bố đẻ của Nam). Khi đến gặp ông Hòa, Quân nói cho cháu mượn xe, anh Nam đã đồng ý rồi. Ông Hòa gọi điện thoại cho Nam để hỏi xem Quân nói đúng không về việc Nam cho mượn xe thì Nam nói là vợ Nam đã đồng ý cho mượn nên cứ để Quân lấy xe đi. Sau khi lấy xe máy Quân đi quay lại quán nước nhà ông Quý nơi anh Nam đang ở đó để hỏi mượn giấy tờ xe, Quân hứa sẽ trả cả xe và giấy tờ cho anh Nam sau khi đi chơi về, Nam đưa giấy tờ xe cho Quân. Lấy được xe và giấy tờ xe Quân điều khiển đi đến nhà anh Lê Văn Minh, lúc này khoảng 22 giờ, mục đích để bán xe lấy tiền. Gặp anh Minh, Quân nói muốn bán xe, anh Minh có hỏi xe của ai thì Quân trả lời xe của anh Nam. Do có quen biết với Nam nên anh Minh đã gọi điện thoại hỏi Nam để xác nhận anh Nam có đồng ý cho Quân bán xe hay không. Nam nghe điện thoại Minh gọi hỏi cho Quân bán xe à; lúc này Nam chưa biết việc Quân đã lừa mình để lấy chiếc xe đi, mà chỉ nghĩ Quân mượn xe đi chơi thì sẽ không có việc bán xe, cho nên Nam không có lời nói nào ngăn cản việc Minh và Quân mua bán chiếc xe. Vì thấy anh Nam không ngăn cản, không tỏ thái độ gì nên anh Minh lầm tưởng là anh Nam đã đồng ý cho Quân bán xe. Quân và Minh thỏa thuận mua bán chiếc xe với giá 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng); anh Minh viết giấy bán xe để Quân ký nhận và đã đưa đủ số tiền thỏa thuận cho Quân. Quân cầm tiền và đi về nhà sau đó đã tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Ngày 20/02/2020 anh Nam gặp Quân hỏi về việc Quân đã lừa Nam để lấy xe máy đi bán đồng thời yêu cầu Nam đi chuộc xe về trả lại cho mình. Quân hẹn anh Nam 03 ngày sau sẽ chuộc cả xe và giấy tờ về trả, nhưng hết 03 ngày Quân không trả lại xe như đã hứa mà còn bỏ đi. Do không liên lạc được với Quân để đòi lại xe nên ngày 30/4/2020 anh Nam làm đơn đề nghị Công an xã Yên Lương giải quyết buộc Quân trả lại xe cho gia đình anh.

Sau khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành tạm giữ đồ vật, tài liệu của anh Lê Văn Minh bao gồm: 01 xe mô tô BKS 19C1-280.23 nhãn hiệu Honda Winner màu vàng đen, số khung 2601GY103779, số máy KC26E1140300; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương; 01 giấy bán xe mô tô BKS 19C1-280.23.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Sơn đã kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 19C1-280.23 trị giá 31.000.000đồng (Ba mươi mốt triệu đồng chẵn).

Ngày 06/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối Lê Văn Quân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Lê Văn Quân đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Mục đích Lê Văn Quân lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Người bị hại – anh Lê Văn Nam và chị Lê Thị Lương đã được nhận lại chiếc xe mô tô BKS 19C1-280.23 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương nên không yêu cầu Quân phải bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Quân.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại – ông Bùi Đức Dũng: Tại phiên tòa anh Nam và chị Lương vắng mặt nhưng anh chị vẫn giữ nguyên quan điểm như trong quá trình điều tra, anh chị đã nhận lại đầy đủ tài sản, đồ vật nên không yêu cầu Quân bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Quân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Lê Văn Minh vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra anh Minh xác nhận Quân đã trả cho anh Minh số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), số tiền còn lại là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) anh cho Quân trả dần.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đinh Thị Hạnh: Bà Hạnh nhất trí với quan điểm của anh Minh, đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 28 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Lê Văn Quân về tô ̣i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy đi ̣nh khoản 1 Điều 174 - Bô ̣ luâ ̣t hinh sự

̀

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Lê Văn Quân từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn Quân.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 – Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận ngày 02/7/2020, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Sơn đã trả lại 01 xe mô tô BKS 19C1-280.23 nhãn hiệu Honda Winner màu vàng đen, số khung 2601GY103779, số máy KC26E1140300; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương cho gia đình anh Nam, chị Lương là phù hợp.

Về dân sự: Anh Nam, chị Lương đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất nên không yêu cầu Quân phải bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Đối với số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng chẵn) Minh đưa cho Quân. Xác nhận bị cáo Lê Văn Quân đã tự nguyện hoàn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Minh số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng). Buộc Lê Văn Quân có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Văn Minh số tiền còn lại là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Về án phí: Bị cáo Lê Văn Quân phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo – Ông Lã Thành Công: Ông Công nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh và áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên bị cáo tuổi đời còn trẻ, là người dân tộc thiểu số, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng nên mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị là quá nghiêm khắc đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Không ai có tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Chứng cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Văn Quân khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, cụ thể: Ngày 19/02/2020 tại khu Bồ Xồ, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Lê Văn Quân đã có hành vi dùng thủ đoạn, lời nói gian dối đối với anh Lê Văn Nam, Quân nói rằng vợ anh Nam là chị Lê Thị Lương đã đồng ý cho Quân mượn chiếc xe mô tô BKS 19C1-280.23 nhãn hiệu Honda Winner màu vàng đen, số khung 2601GY103779, số máy KC26E1140300 (giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương) để đi chơi nhưng sau khi lấy được xe Quân đã mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 31.000.000đồng (Ba mươi mốt triệu đồng).

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; lời khai người bị hại, người liên quan; vật chứng vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn muốn lừa đảo chiếm đoạt. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Sơn đã kết luận: Tổng giá tài sản tiến hành định giá là 31.000.000đồng (Ba mươi mốt triệu đồng).Tại phiên tòa sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo nhất trí, không tranh luận. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luâ ̣n bị cáo Lê Văn Quân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự . Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Nhận định về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình thuần nông, có nhân thân tốt. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là cao so với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa không phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, không đủ tính răn đe và giáo dục bị cáo bởi bị cáo tuổi đời còn trẻ, đang trong độ tuổi lao động nhưng đã lợi dụng sự quen biết, tin tưởng của người thân, có hành vi gian dối, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn. Do vậy HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo và tu dưỡng bản thân, có như vậy bị cáo mới có thể nhận ra sai lầm của mình, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ xung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 – BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ. HĐXX xét thấy bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên miễn áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiê ̣m dân sự:

Đối với Anh Nam, chị Lương đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất nên không yêu cầu Quân phải bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì khác do vậy HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng chẵn) Minh đưa cho Quân. Xác nhận bị cáo Lê Văn Quân đã tự nguyện hoàn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Minh số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng). Trong quá trình điều tra, anh Minh và Quân thống nhất để Quân được trả dần số tiền còn lại, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay anh Minh vắng mặt nên HĐXX không ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên mà cần buộc Lê Văn Quân có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Văn Minh số tiền còn lại là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) là phù hợp.

Về vật chứng: Cần xác nhận ngày 02/7/2020, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Sơn đã trả lại 01 xe mô tô BKS 19C1-280.23 nhãn hiệu Honda Winner màu vàng đen, số khung 2601GY103779, số máy KC26E1140300; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương cho gia đình anh Nam, chị Lương là phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Quân phạm tội “Lừa đảo chiếm đọat tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Quân 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn Quân.

2. Về dân sự:

Xác nhận bị cáo Lê Văn Quân đã tự nguyện hoàn trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Minh số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng), anh Minh đã nhận đủ số tiền trên.

Buộc bị cáo Lê Văn Quân có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Văn Minh số tiền còn lại là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 357 – Bộ luật dân sự 2015.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 – Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận ngày 02/7/2020, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Thanh Sơn đã trả lại 01 xe mô tô BKS 19C1-280.23 nhãn hiệu Honda Winner màu vàng đen, số khung 2601GY103779, số máy KC26E1140300; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016908 tên chủ xe là Lê Thị Lương cho gia đình anh Nam, chị Lương.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn Quân phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ