vanban.org

Bản án 59/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2020/HS-ST
Ngày 27 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Phương Dung;

Ông Phạm Văn Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1981 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Ấp 1, xã Tr, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Q, sinh năm 1953 và bà Lê Thị H, sinh năm 1953; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1987; bị cáo có 01 người con sinh năm 2008; tiền án: 01. Ngày 22/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành án tại Trại giam An Phước đến ngày 14/10/2018 được trả tự do, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 14/3/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm xử phạt 26 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương đến ngày 30/6/2006 được trả tự do, đã được xóa án tích; Ngày 12/01/2012, bị Công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2020 cho đến nay. Bị cáo có m t tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp 6, xã M, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Vắng m t.

2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Ấp H, xã Th, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Vắng m t.

- Người làm chứng: Ông Hồ Văn L. Vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 96/2014/HSST ngày 22/7/2014. Nguyễn Quang Đ chấp hành án tại Trại giam An Phước đến ngày 14/10/2018 được trả tự do, chưa được xóa án tích. Ngày 12/5/2020, Nguyễn Quang Đ đón xe khách đi từ nhà thuộc xã Tr, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đến cổng khu công nghiệp Chơn Thành I, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước hỏi mua 200.000 đồng ma túy của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng. Người đàn ông đưa cho Đ 01 bịch nylon hàn kín bên trong có ma túy, Đ bỏ ma túy trong túi quần và đón xe khách về nhà. Tối ngày 13/5/2020, Đ lấy ra một ít ma túy sử dụng tại nhà, phần còn lại hàn kín bỏ vào túi quần jean phía trước bên phải Đ đang m c. Đến khoảng 01 giờ ngày 14/5/2020, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Attila biển số 93B1-xxxxx đến nhà Hồ Văn L tại Ấp 1, xã Tr, huyện Bàu Bàng rủ L đi chơi tại xã TL, huyện Phú Giáo. Khi Đ chở L đi đến đoạn đường ĐT 750 thuộc ấp 6, xã TL, huyện Phú Giáo thì bị lực lượng Công an xã TL kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 bịch nylon hàn kín chứa ma túy đá trong túi quần trước bên phải của Đ.

Bản Kết luận giám định số 295/MT-PC09 ngày 21/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0161 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo thu giữ:

- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong một bì thư được niêm phong có chữ ký của đối tượng Nguyễn Quang Đ, cán bộ niêm phong Nguyễn Ngọc Thọ và hình dấu đỏ của Công an xã TL, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- 01 (một) xe mô tô biển số 93B1-xxxxx của ông Nguyễn Văn M.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKSPG ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha của bị cáo là thương binh loại A, hạng 3/4 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2020. Về xử lý vật chứng đã xử lý, Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải mong muốn được xét xử nhẹ để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. HĐXX xét thấy các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang Đ khai nhận: Ngày 13/5/2020, bị cáo Nguyễn Quang Đ cất giấu 0,0161 gam loại Methamphetamine trong túi quần trước bên phải để sử dụng. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 93B1-xxxxx đi đến đoạn đường ĐT 750 thuộc ấp 6, xã TL, huyện Phú Giáo thì bị lực lượng Công an xã TL, huyện Phú Giáo bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 295/MT-PC09 ngày 21/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0161 gam loại Methamphetamine.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. M c dù bị cáo Nguyễn Quang Đ có hành vi tàng trữ trái phép ma túy với trọng lượng 0,0161 gam loại Methamphetamine nhưng trước đó, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành. Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại vì nó không những gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn làm lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha của bị cáo là người có công với cách mạng là thương binh loại A, hạng 3/4 nên HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong một bì thư được niêm phong có chữ ký của đối tượng Nguyễn Quang Đ, cán bộ niêm phong Nguyễn Ngọc Thọ và hình dấu đỏ của Công an xã TL, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật đã phục vụ hết cho công tác giám định nên HĐXX không đ t ra xem xét.

- 01 (một) xe mô tô biển số 93B1-xxxxx do Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp 6, xã M, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, bà T bán xe mô tô này cho ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp H, xã Th, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nhưng chưa làm thủ tục sang tên đăng ký xe. Ngày 13/5/2020, ông Nguyễn Văn M cho Đ mượn xe nhưng không biết Đ sử dụng phương tiện vào việc phạm tội. Ngày 24/7/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô biển số 93B1-xxxxx cho ông Nguyễn Văn M nên HĐXX không đ t ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các tình tiết khác đối với bị cáo cũng như về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được HĐXX xem xét chấp nhận.

Đối với Hồ Văn L được Đ rủ đi chơi, khi đến đoạn đường thuộc ấp 6, xã TL thì bị bắt quả tang. L không biết Đ cất giấu ma túy trong người nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo không xử lý nên HĐXX không đề cập đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2020.

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Quang Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ