- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Anh T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Anh T (tên gọi khác P) phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2020/HS-ST Ngày 28 - 12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Thế Khuynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Kim.
Ông Hoàng Xuân Cương.
-Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2020/TLHS-
ST ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
57/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Vi Anh T (tên gọi khác: P), sinh ngày 11 tháng 11 năm 1983 tại huyện C,
tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu T, thị trấn Đ, huyện
C, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính:
Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vi Văn K (đã chết)
và con bà Lư Thị T (Lô Thị H); có vợ Hoàng Thị R và 01 con sinh năm 2014; tiền
sự: Không có; tiền án: Ngày 21/12/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đến nay phần bồi
thường dân sự chưa thi hành. Bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chi
Lăng từ ngày 24/9/2020 đến nay; có mặt.
- Bị hại:Chị Lạc Thị P, sinh năm 1990, địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Hoàng Mạnh T, sinh năm 1988, địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/9/2020, Vi Anh T từ nhà đi bộ qua tỉnh lộ 234 rồi đi
theo đường mòn, qua bờ sông Thương, sau đó tiếp tục đi men theo bờ ruộng mục đích thấy tài sản nhà ai sơ hở thì lấy. Khi Vi Anh T đi qua nhà anh Hoàng Mạnh T ở khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, quan sát thấy cửa chính vào nhà mở, xung quanh không thấy ai nên Vi Anh T đi thẳng vào trong nhà, khi vào gian phòng khách, Vi Anh T thấy có một chiếc điện thoại di động đang cắm sạc để trên tủ kệ để ti vi, là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Plus, màu trắng của chị Lạc Thị P (vợ anh T), Vi Anh T đi đến vị trí chiếc điện thoại, tay phải rút dây sạc, tay trái cầm lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần rồi quay ra khỏi nhà. Vi Anh T đi ra khu vực ngã 3 Đ giao với quốc lộ 1A, đón xe ô tô khách theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội mục đích đi đến thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để bán điện thoại di động vừa trộm được, lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khi lên xe ô tô khách (không biết tên nhà xe, biển kiểm soát), phụ xe khách thu tiền xe, do không có tiền để trả cho nhà xe Vi Anh T đã hỏi một người phụ nữ (không quen biết) ngồi hàng ghế bên cạnh “Cô có mua điện thoại không cháu bán cho”, người phụ nữ nói “Điện thoại đâu cô xem”, Vi Anh T đưa chiếc điện thoại cho người phụ nữ xem và thỏa thuận bán với giá 500.000 đồng, người phụ nữ đồng ý và trả cho Vi Anh T 500.000 đồng. Bán được điện thoại có tiền, Vi Anh T trả tiền xe 50.000 đồng, khi xe đi đến khu vực ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì Vi Anh T xuống xe, sau đó đi đến hiệu thuốc mua 02 (hai) chiếc xilanh và 02 (hai) lọ nước cất hết 20.000 đồng mục đích sau khi mua được ma túy sẽ sử dụng. Vi Anh T tiếp tục đi bộ vào khu vực thị trấn K, tại đây gặp và hỏi một người đàn ông đi xe ôm (không biết tên, tuổi, địa chỉ) chỗ mua ma túy, người này chỉ đường cho Vi Anh T đến một dãy nhà trọ, đến nơi Vi Anh T hỏi một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhìn rõ mặt) mua 04 (bốn) tép ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, Vi Anh T sử dụng luôn 01 (một) tép rồi bắt xe ô tô khách đi về nhà. Tối ngày 14/9/2020 Vi Anh T sử dụng 01 (một) tép ma túy, sáng ngày 15/9/2020 Vi Anh T tiếp tục sử dụng 02 (hai) tép ma túy còn lại.
Do không có thông tin cụ thể về người phụ nữ đã mua chiếc điện thoại di
động Vi Anh T trộm cắp được, nên Cơ quan điều tra không thể thu hồi được tài sản. Chị Lạc Thị P không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại đối với tài sản.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2020 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chi Lăng, kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Plus, màu trắng, mua năm 2018; thời điểm định giá có giá là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 60/CT-VKSCL ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Chi Lăng đã truy tố bị cáo Vi Anh T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vi Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
bản thân như bản cáo trạng đã truy tố. Nguyên nhân bị cáo phạm tội là do nghiện
ma túy.
Bị hại chị Lạc Thị P không yêu cầu bị cáo Vi Anh T bồi thường giá trị chiếc
điện thoại đã mất và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, anh Hoàng Mạnh T không có yêu
cầu gì đối với Vi Anh T, (theo lời khai được công bố).
Kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội
dung Cáo trạng truy tố, sau khi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đánh
giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân
thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Kiểm sát viên
đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vi Anh T phạm tội Trộm cắp tài
sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Anh T từ 12 đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước 500.000 đồng (là
số tiền Vi Anh T bán điện thoại đã tiêu xài hết).
Về vật chứng: Gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy
J7 Plus, màu trắng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã truy tìm vật chứng nhưng hiện tại
chưa thu hồi được.
Về phần dân sự: Bị hại chị Lạc Thị P không yêu cầu bồi thường thiệt hại
nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Vi Anh T xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng Điều tra viên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi,
quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp
pháp.Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng
Mạnh T, không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ đã có đủ lời
khai của họ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Anh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở
trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường do Công an huyện Chi Lăng lập ngày 24/9/2020, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ. Các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi thực hiện, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định, cụ thể: Khoảng 08 giờ ngày 14/9/2020 tại nhà anh Hoàng Mạnh T và chị Lạc Thị P ở khu T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Lợi dụng sơ hở của chủ nhà, Vi Anh T đã lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Plus, màu trắng, trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Lạc Thị P đang cắm sạc tại phòng khách. Sau đó Vi Anh T đã bán chiếc điện thoại di động cho một người phụ nữ không quen biết được 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), Vi Anh T sử dụng chi tiêu và mua ma túy Heroine về sử dụng hết.
Như vậy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Vi Anh T đã hoàn thành.
Tài sản bị xâm phạm có giá trị đến 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Vi Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật cần chấp nhận.
Bị cáo Vi Anh T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự, nên bị cáo có khả năng nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật. Chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân muốn có tiền ăn tiêu, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, trộm cắp tài sản mang đi bán để chiếm đoạt. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, là một trong các quyền quan trong được pháp luật bảo vệ, gây bất bình, hoang mang, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của
Bộ luật Hình sự, có cân nhắc đến tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vi Anh T.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo đã có ý định từ trước,
lợi dụng lúc vắng người qua lại, tài sản không có người trông giữ để thực hiện tội phạm, chiếm đoạt tài sản. Về nhân thân: Bị cáo Vi Anh T đã có một tiền án nên bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vi Anh T có 01 tình tiết, bị cáo đã bị xét xử, bị phạt tù chưa được xóa án tích, nhưng không khắc phục, sửa chữa mà lại tiếp tục thưc hiện hành vi phạm tội. Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị
hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét đánh giá đó Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức
hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo Vi Anh T ra khỏi xã hội
một thời gian, nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tu dưỡng
phấn đấu trở thành công dân tốt biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình
và xã hội.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt
cho bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Vi Anh T là người nghiện ma túy, bản thân bị cáo có khó khăn về
kinh tế, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước
500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền do phạm tội mà có (là số tiền Vi Anh T
bán chiếc điện thoại trộm cắp và đã tiêu xài hết).
Về phần dân sự: Tại phiên tòa bị hại chị Lạc Thị P không yêu cầu bị
cáo Vi Anh T bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Vi Anh Tuấn,
do Vi Anh T đã sử dụng hết nên không thể xác định khối lượng; không có căn cứ
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vi Anh T về hành vi này. Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Chi Lăng tách ra để củng cố tài liệu xử lý là đúng quy
định. Đối với người phụ nữ đã mua chiếc điện thoại di động mà Vi Anh T trộm
cắp, do không có thông tin cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Chi Lăng không thể điều tra xác minh, thu hồi tài sản là đúng quy định. Đối với
người đàn ông xe ôm chỉ đường cho T đi mua ma túy, người đàn ông đã bán ma
túy cho Vi Anh T tại khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do không có
thông tin cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng không thể
điều tra xác minh là đúng quy định nên được chấp nhận.
Vật chứng vụ án: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy
J7 Plus, màu trắng là tài sản của chị Lạc Thị P bị Vi Anh T chiếm đoạt. Cơ quan
điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu hồi được, khi nào thu được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm vì chịu
án phí là trách nhiệm của người bị kết án theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các
Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Vi Anh T (tên gọi khác P) phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Vi Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 24 tháng 9 năm 2020.
2. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của Vi Anh T (tên gọi khác P), nộp vào
ngân sách Nhà nước 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
3. Về án phí: Bị cáo Vi Anh T (tên gọi khác P), phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
4. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS Công an huyện Chi Lăng, Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ, Công an huyện Chi Lăng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế Khuynh |